Ngày 12/7 đánh dấu cột mốc lịch sử khi Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc (thuộc địa bàn các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh và TP Hải Phòng) được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới. Đây là Di sản thế giới thứ 9 ở Việt Nam được UNESCO công nhận và là Di sản thế giới liên tỉnh thứ 2 ở Việt Nam. Sự kiện đặc biệt này không chỉ là niềm tự hào mà còn mở ra cơ hội mới trong gìn giữ, phát huy và lan tỏa giá trị Di sản.
Nhìn lại hành trình hơn 13 năm xây dựng hồ sơ khoa học Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, đó là hành trình thể hiện sự quyết tâm, nỗ lực bền bỉ của các địa phương liên quan trong việc tôn vinh di sản, đặc biệt là tỉnh Quảng Ninh với vai trò chủ trì xây dựng hồ sơ.
Quần thể di tích, danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc phản ánh câu chuyện về sự hình thành và tiếp nối bền vững di sản Phật giáo Trúc Lâm, một Thiền phái độc đáo của Việt Nam được khai sáng bởi các vị vua nhà Trần, hoàng tộc và các cao tăng trong bối cảnh đầy những biến động toàn cầu vào thế kỷ XIII.
Tại Kỳ họp lần thứ 47 của Ủy ban Di sản Thế giới (UNESCO), Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc (thuộc địa bàn các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh và thành phố Hải Phòng) được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới. Đây là Di sản thế giới thứ 9 ở Việt Nam được UNESCO công nhận và là Di sản thế giới liên tỉnh thứ 2 ở Việt Nam, cùng với Di sản thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà (thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng).
Di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, gồm nhiều công trình kiến trúc tôn giáo chùa, am, tháp, trải dài gần 20km theo tuyến đường từ dốc đỏ (chùa Bí Thượng – Chùa Trình) đến đỉnh núi Yên Tử (Chùa Đồng). Gần 1.000 năm trước, sử sách đã ghi lại rằng Yên Tử là phúc địa thứ 4 của Giao Châu. Ngoài ra nhiều tài liệu lịch sử đều thống nhất ghi nhận năm Tự Đức thứ 3 (1850) núi Yên Tử được liệt vào hàng danh sơn, chép trong điển thờ.
Triều Trần (1225 - 1400) với võ công, văn trị hiển hách đã mở ra một kỷ nguyên hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Theo tư liệu lịch sử và phả tộc họ Trần, Đông Triều chính là đất tụ cư đầu tiên của họ Trần ở nước ta, sau đó được vua Trần Thái Tông ban cho anh trai là Trần Liễu làm đất thang mộc (nghĩa là nơi phát tích của một triều đại).
Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc gồm hàng trăm di tích và danh thắng thuộc phạm vi các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương và Bắc Giang, đang được đệ trình UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Tất cả các di tích đều đã được xếp hạng ở cấp độ quốc gia và quốc gia đặc biệt và đã được đưa vào phạm vi bảo vệ cấp cao nhất. Nhờ có các đợt trùng tu, tu bổ liên tục qua các thời kỳ mà Khu di sản đề cử có được diện mạo như hôm nay, trở thành Khu di sản văn hóa lớn nhất VN.
Liên minh giữa thiền phái Trúc Lâm và các vị vua Trần đã tạo ra đại đoàn kết dân tộc, huy động các lực lượng và toàn bộ các nhóm dân tộc và tôn giáo cho việc xây dựng đất nước Đại Việt, đồng thời bảo vệ hòa bình và ngăn chặn chiến tranh lan xuống Đông Bắc Á và Nam Á trong các thế kỷ 13-14. Với những đặc điểm riêng biệt ấy, Yên Tử được coi là một di sản độc đáo trên thế giới bởi mối liên kết mật thiết 3 bên giữa tôn giáo – chủ quyền quốc gia và di sản văn hóa.
Đỉnh Ngọa Vân nằm trên núi Bảo Đài thuộc dãy núi Yên Tử trong cánh cung Đông Triều. Do nằm trong cánh cung Đông Triều, phía Bắc được che chắn bởi núi Vây Rồng cho nên khi hơi ẩm từ biển thổi vào bị núi Vây Rồng chặn lại ngưng tụ thành mây, khiến cho sườn núi phía Nam của núi Vây Rồng, trong đó có đỉnh Ngọa Vân quanh năm mây phủ, tạo nên khung cảnh mờ ảo, pha chút huyền bí. Vì vậy, nơi đây được gọi là Ngọa Vân.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 là thắng lợi mẫu mực của tinh thần cả nước đồng lòng, của sức mạnh toàn dân. Trải qua thời gian với bao thăng trầm của lịch sử, chiến thắng Bạch Đằng và những chứng tích bãi cọc gần nghìn năm tuổi vẫn vẹn nguyên giá trị, góp phần làm nổi bật giá trị toàn cầu của Yên Tử cũng như Phật giáo Trúc Lâm.
Chùa Vân Tiêu có lịch sử đã hơn 700 năm. Xưa kia, chùa có tên là Am Tử Tiêu. Theo Tam tổ thực lục, năm Mậu Thân (1308), sau mùa An cư kết hạ, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đã vào núi Yên Tử, lên ở Am Tử Tiêu, giảng Truyền đăng lục cho Pháp Loa. Đây là một pho Thiền sử đồ sộ và rất quan trọng để nghiên cứu Thiền tông nói chung và Thiền tông Trung Hoa nói riêng. Ngôi chùa tựa lưng vào sườn núi Yên Tử, tầm nhìn phía trước phong quang, dường như lúc ẩn, lúc hiện trong những tầng mây.
Yên Tử như một bảo tàng sống về giá trị lịch sử, văn hoá tâm linh, một bảo tàng về đa dạng sinh học lẫn sự kỳ vĩ của núi rừng, thảm thực vật phong phú và nhiều loài động quý hiếm. Trên con đường hành hương về Yên Tử nếu đi đường bộ từ chân núi Yên Tử lên chùa Hoa Yên, chúng ta sẽ bắt gặp rất nhiều những cây Xích Tùng hay còn gọi là những lão Tùng trăm tuổi.
Từ bao đời nay, khi nhắc tới Yên Tử, mỗi người dân Việt Nam đều hết sức tôn sùng, ngưỡng vọng. Bởi từ xa xưa, Yên Tử đã được coi là một “phúc địa”, một vùng “địa linh nhân kiệt” của Giao Châu. Và cách đây hơn 7 thế kỷ, nơi đây đã khai sinh ra dòng thiền Trúc Lâm thuần Việt, do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. Nơi đây chính là “xương sống”, “động mạch chủ” của Đại Việt xưa và tới nay vẫn còn nguyên những giá trị quan trọng, lan toả, ăn sâu, bén rễ vào đời sống của người Việt.
Ngoài các ngôi chùa đã được phục dựng lại, các am tháp còn giữ nguyên dáng vẻ cổ kính từ thời khởi tạo thì tại Yên Tử còn phát hiện dấu tích của các công trình cổ cách đây mấy trăm năm. Trong đó, không thể không nhắc tới am Thung, am Ngự Dược (hay còn gọi là am Dược) – 2 công trình gắn liền với quá trình tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông và sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm, đồng thời là minh chứng rõ ràng về giá trị của vùng dược liệu quý Yên Tử.
Tọa lạc tại vị trí cao nhất trên đỉnh núi Yên Tử, chùa Đồng linh thiêng là biểu tượng của sự giao hòa giữa đất, trời và con người; điểm hành hương cuối cùng trên hành trình về Đất Phật. Chùa Đồng phản ánh tâm nguyện đạt tới cảnh giới cao nhất của người tu hành và là biểu tượng văn hóa đương đại của Yên Tử, có giá trị to lớn trong việc quảng bá Phật giáo Trúc Lâm và văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Ngoài ngôi chùa Đồng trên đỉnh linh sơn cao 1.068m so với mực nước biển được coi là độc nhất vô nhị ở Việt Nam, tại Yên Tử còn có một ngôi chùa đơn sơ, giản dị, nhưng ẩn chứa những giá trị lịch sử to lớn, đó là chùa Một Mái. Ngôi chùa này gắn liền với tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm về sự hòa hợp giữa đạo và đời, giữa con người và thiên nhiên rộng lớn.
Thác Ngự Dội, am Thiền Định cùng với thác Vàng tạo thành một hệ thống phụ trợ xung quanh ngôi chùa chính Hoa Yên. Điều này không chỉ khẳng định tính liền mạch, xuyên suốt của các điểm di tích tại Yên Tử mà còn cho thấy mối liên quan mật thiết đến quá trình tu hành của Phật hoàng Trần Nhân Tông.
Chùa Trình – Yên Tử, tên chữ là Thắng Nghiêm Tự, cũng gọi là chùa Bí Thượng. Dân gian quen gọi là chùa Trình – Yên Tử vì chùa nằm ở cửa ngõ vào khu di tích Yên Tử, là nơi các tín đồ, Phật tử thập phương thực hành tín lễ “đi trình về tạ” mỗi khi về với Yên Tử - miền đất Phật, đất Tổ linh thiêng của Phật giáo Việt Nam, nơi gắn liền với cuộc đời tu hành, giác ngộ và xây dựng, phát triển Phật giáo Trúc Lâm của Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.
Trong hành trình hành hương lên đỉnh thiêng Yên Tử, hẳn không ít lần chúng ta dừng chân đứng lại, mênh mang nghĩ về hiện tại và quá khứ giữa chốn huyền không linh thiêng. Non thiêng Yên Tử luôn ẩn chứa thật nhiều những câu chuyện màu nhiệm, và hòa cùng cảm xúc mênh mang đó, có một ngôi chùa nằm chênh vênh giữa vách núi, gợi nhớ cho du khách về một thời kì đã qua, đó là chùa Bảo Sái.
Hồ sơ chính thức đề cử Quần thể di tích danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc lên UNESCO công nhận là Di sản thế giới đã hoàn thành, được gửi cho Trung tâm Di sản thế giới, đảm bảo chất lượng về mặt kỹ thuật, đầy đủ các tiêu chuẩn, thành phần theo quy định và dự kiến được các chuyên gia của UNESCO thẩm định vào tháng 8 tới đây. Quảng Ninh và các địa phương, đơn vị có liên quan đang tích cực chuẩn bị các phần việc, trong đó có khâu tuyên truyền nhằm lan toả rộng rãi giá trị di sản.