Làng văn Việt Nam từ thời "Tự lực văn đoàn" đến nay, chắc chẳng ai xứng với danh hiệu "vua trào phúng" như Tú Mỡ (tên thật của ông là Hồ Trọng Hiếu). Ông sinh năm Canh Tý 1900 tại phố Hàng Hòm, Hà Nội, mang mệnh Dương, Bích thượng thổ (đất trên tường).
"Vua trào phúng": Nhà thơ Tú Mỡ
Trước khi nổi tiếng là "vua trào phúng", Tú Mỡ làm thư ký Sở Tài chính Hà Nội. Lúc ấy, tuy có viết thơ vui in trong tập kỷ yếu "Việt Nam thanh niên Hội" với cái tên Lý Toét, nhưng ông chưa được mấy ai để ý. Đến khi "Tự lực văn đoàn" mở ra mục "Dòng nước ngược" thì Lý Toét có thêm bạn... Tú Mỡ. Ông lấy bút danh Tú Mỡ cũng từ phiên bản Tú Xương, mặc dù vóc dáng ông gày nhom.
Thơ Tú Mỡ xuất hiện dày trên “Phong Hóa”, “Ngày nay” và trước cách mạng ông đã xuất bản hai tập "Dòng nước ngược". Ông đã được mệnh danh là "vua trào phúng" từ hồi đó. "Vua trào phúng" có đặc điểm khác người là thường mặc áo the tàng, đi giày mõm nhái và đội một cái mũ dứa có quai lụa thắt dưới cằm.
Trên mũ sơn vòng có ba chữ nho ghi tên "Hồ Trọng Hiếu". Còn xe đạp của ông thì gắn hẳn một cái còi xe hơi bấm bí bom ầm ĩ khi gặp đám đông. Đúng là xe của "vua trào phúng".
Theo kháng chiến lên Việt Bắc, Tú Mỡ còn có bút danh là Bút Chiến Đấu. Những năm ấy, Tú Mỡ vẫn chuyên với giọng thơ trào phúng với các tập "Địch vận diễn ca", "Nụ cười kháng chiến", giễu cợt cay độc tướng Đờlát Đờ Tátxinhi và nhiều tướng giặc khác.
Giọng thơ trào phúng Tú Mỡ lại tiếp tục đóng góp trong đấu tranh thống nhất với những tập thơ "Nụ cười chính nghĩa", "Bút chiến đấu", "Đòn bút". Những ngày đánh Mỹ, nhà Tú Mỡ ở nơi có nhiều ụ pháo cao xạ, ông không muốn đi sơ tán mà muốn ở nhà mục kích pháo ta bắn máy bay Mỹ để làm thơ.
Một chiếc máy bay bị rơi trong bụi chuối gần nhà đã được ông "chôn" bằng một bài thơ chơi chữ giữa "cây chuối" và "ăn củ chuối của ông đây này". "Vua trào phúng" từ trần năm 1976 để lại bao đàn em như: Tú Sót, Tú Nạc, Tú Sụn... Ông là nhà thơ trào phúng duy nhất được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt II - 2000).
"Vua phóng sự": Nhà văn Vũ Trọng Phụng
Cũng như nhà thơ trào phúng Tú Mỡ được tôn vinh là "vua trào phúng", nhà văn Vũ Trọng Phụng được làng báo tôn vinh là "vua phóng sự". Vũ Trọng Phụng sinh năm Nhâm Tý 1912 tại phố Hàng Gai - Hà Nội, mang mệnh Dương, Tang đố mộc (gỗ cây dâu).
Thuở nhỏ, ông học trường Hàng Vôi cùng Vũ Bằng, Vũ Đình Liên. Khi trưởng thành, ông làm thư ký cho nhà in Viễn Đông ấn quán (IDEO) và bắt đầu viết báo, viết truyện từ năm 1930. Truyện ngắn (nhưng đăng tới hai, ba kỳ) đầu tiên "Chống nạng lên đường" của Vũ Trọng Phụng đăng trên "Ngọ báo" được Vũ Bằng rất nể vì bởi sự "ý nhị và mê ly".
Vũ Trọng Phụng có bút danh là Thiên Hư. Tuy viết để kiếm tiền như Bandắc, Đôxtôiépxki... nhưng do tài năng thiên phú, ông đã phát tỏa toàn bộ sự nghiệp văn chương báo chí của mình trong chín năm và đưa nó lên một tầm vóc vĩnh cửu trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
Để kiếm sống, Vũ Trọng Phụng đã phải chọn những đề tài giật gân, dễ cuốn hút người đọc. Những phóng sự ông viết ra như "Làm đĩ", "Cơm thày cơm cô", "Cạm bẫy người", "Lục xì", "Kỹ nghệ lấy Tây"... đã gây chấn động lớn thời bấy giờ. Khác với Tam Lang Vũ Đình Chí là phải đi thực tế kéo xe mới viết được "Tôi kéo xe", những phóng sự mà Vũ Trọng Phụng viết ra đều do ông nghe bạn bè kể lại mà thành.
Bản chất Vũ Trọng Phụng là người lành hiền, hiếu thảo với mẹ và hết lòng vì vợ con. Ông từng tâm sự với nhà thơ Nguyễn Vỹ: "Xã hội này bẩn quá. Tôi biết đem những cái bẩn đó mà dồn vào trong vài trăm trang sách thì làm sao nói hết được cái bẩn hiện giờ". Vũ Trọng Phụng đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ, trong đó có "Số đỏ", Giông tố", "Vỡ đê", "Lấy nhau vì tình", "Trúng số độc đắc"... trác tuyệt...
Sinh vào mùa thu 1912 và mất vào mùa thu 1939 ở tuổi 27, văn Vũ Trọng Phụng hình như cũng mang cái chớm lạnh của mùa thu trong bốn mùa văn xuôi hiện đại Việt Nam...
"Vua làng văn": Nhà văn Nguyễn Đình Thi
Trong số những người lãnh đạo các hội văn học, nghệ thuật Việt Nam, không ai giữ được cương vị ấy trong một thời gian dài bằng nhà văn Nguyễn Đình Thi ở Hội Nhà văn Việt Nam. Ông thật xứng với danh hiệu "vua làng văn".
Nguyễn Đình Thi sinh năm Giáp Tý 1924 tại Luang Prabang (Lào) nhưng quê ông ở Hà Nội. Ông mang mệnh Dương, Hải trung kim. Về nước từ năm 1931, ông học Trường Bornal - Hải Phòng (nay là Trường THPT Ngô Quyền).
Ở đó ông đã tham gia Hướng đạo và sáng tác bài hát. Lên Hà Nội, ông học trường Bưởi và tham gia Văn hóa Cứu quốc từ năm 1943. Do hoạt động cách mạng, ông đã bị bắt và được Luật sư Nguyễn Mạnh Tường bênh vực để được tự do trở lại. Ông vừa cùng Văn Cao sáng tác bài hát cho cách mạng (Văn Cao viết "Tiến quân ca", "Chiến sĩ Việt Nam" còn Nguyễn Đình Thi viết "Diệt phát xít"), thời cao trào cách mạng.
Ông là đại biểu Quốc dân Tân Trào và sau Cách mạng Tháng Tám, trở thành đại biểu Quốc hội trẻ nhất khóa đầu tiên. Ông là Tổng thư ký Hội Văn hóa Cứu quốc trước ngày Toàn quốc kháng chiến.
Sự nghiệp văn chương của "vua làng văn" phát lộ từ kháng chiến chống Pháp cho tới ngày ông từ trần năm 2003. Ngay từ Xuân Đinh Hợi 1947, khi các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô còn trụ bám trên các chiến lũy Hà Nội, Nguyễn Đình Thi đã hứng khởi một trường ca âm thanh "Người Hà Nội" bất tử.
Rồi từ đó, ông chủ trương một giọng điệu thơ kháng chiến khác giọng điệu thơ tiền chiến là "thơ không vần" để sinh ra cuộc tranh luận ở Việt Bắc, năm 1948. Ông đã xuất bản nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại như "Xung kích" (tiểu thuyết), "Thu đông năm nay" (truyện), "Người chiến sĩ" (thơ), "Mấy vấn đề văn học" (tiểu luận) cùng vị trí Ủy viên BCH Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1956 đến 1958 và là Tổng thư ký Hội Nhà văn liên tục ba khóa: I, II, III từ 1958 đến 1989.
Trong suốt hơn 30 năm làm "vua làng văn", Nguyễn Đình Thi vẫn viết nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại như "Vỡ bờ" (tiểu thuyết), "Con nai đen", "Giấc mơ", "Nguyễn Trãi ở Đông Quan"... (kịch), "Bài thơ Hắc Hải", "Dòng sông trong xanh", "Tia nắng", "Sóng reo"... (thơ), "Công việc của người viết tiểu thuyết" (tiểu luận)...
Nguyễn Đình Thi thật xứng đáng với Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I-1996). Tuy chỉ là người viết rất ít ca khúc, ông vẫn có "Diệt phát xít" và "Người Hà Nội" ở đỉnh cao lịch sử âm nhạc hiện đại Việt Nam và có nhiều bài thơ được phổ nhạc như "Nhớ", "Lá đỏ", "Quê hương Việt Nam"...
"Vua ghita đất Bắc một thời": Nghệ sĩ Hải Thoại
Hải Thoại sinh ở Nam Định năm Bính Tý 1936, mệnh Dương, Giản hạ thủy. Ông lên Hà Nội từ ngay sau ngày giải phóng thủ đô và chỉ vài năm sau, ông cùng bạn chơi ghi ta cùng thời lập ra nhóm "Thất cầm" chuyên chú hẳn vào công việc luyện tập và biểu diễn.
Trước ngày miền Nam giải phóng, ở miền Bắc, cây đàn ghi ta trở thành một nhạc khí vừa đại chúng, vừa cao sang như ai đó đã gọi đó là nhạc khí mang trên nó cả một dàn nhạc được ngân vang trên 6 sợi đàn và 5 ngón tay nghệ sĩ.
Biết bao thế hệ đã trở thành học trò rồi nghệ sĩ ghi ta từ nhóm "Thất cầm" mà Hải Thoại như người anh cả, như bậc chủ soái, như "vua ghi ta đất Bắc một thời". Không chỉ chơi điêu luyện bằng tiếng đàn truyền cảm đặc biệt của mình những tác phẩm của các nhạc sĩ thế giới viết cho ghi ta như F. Tasega, F. Sor...
Hải Thoại còn chuyển soạn nhiều bản dân ca, ca khúc Việt Nam và thế giới cho đàn ghi ta mà nổi tiếng nhất, nổi tiếng cho đến hôm nay là bản chuyển soạn của Hải Thoại dành cho ca khúc "Bài ca hy vọng" réo rắt, cuốn hút, loang sâu vào tận đáy tâm hồn và để lại một âm hưởng vang vọng mãi trong tâm trí.
Bên cạnh "Bài ca hy vọng" là "Quê em miền Trung du" của Nguyễn Đức Toàn, là những làn điệu dân ca quan họ "Xe chỉ luồn kim", "Người ơi người ở đừng về", những làn điệu chèo như "Lới lơ", "Sắp qua cầu"... và cả những ca khúc Nga với những hòa âm và tiết tấu khác lạ, giục giã.
Hải Thoại đã từng cùng các bạn thể hiện nhạc viết cho kịch của Văn Cao, đi trình diễn theo chương trình của Hội Nhạc sĩ Việt Nam do Nhạc sĩ Đỗ Nhuận làm trưởng đoàn. "Vua ghi ta đất Bắc một thời" đã từng là trụ cột của Câu lạc bộ ghi ta của Hội Nhạc sĩ Việt Nam.
Bây giờ, khi trình độ độc tấu ghi ta của các nghệ sĩ trẻ, trong đó có cả con trai Hải Thoại là nghệ sĩ Nguyễn Quang Vinh - có tiến bộ vượt bậc bởi thời đại thông tin đa chiều, nhưng người mến mộ âm nhạc, mến mộ ghi ta vẫn rất trân trọng một thời gian khó, khi cây ghi ta như người bạn đồng hành cùng đánh giặc.
"Vua kịch nói": Kịch tác gia Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh năm Mậu Tý 1948 tại Phú Thọ (nhưng quê ở Quảng Nam) - mệnh Dương, Tích lịch hỏa. Ông là con trai cả nhà thơ kiêm nhà viết chèo Lưu Quang Thuận. Thuở nhỏ, học ở Hà Nội, vừa tốt nghiệp phổ thông thì chiến tranh chống Mỹ ập tới, Lưu Quang Vũ xung phong vào bộ đội thuộc quân chủng Phòng không - Không quân.
Lưu Quang Vũ làm thơ từ nhỏ. Thơ Lưu Quang Vũ khi ấy mang giọng điệu của cả một thế hệ thanh niên thành phố trước khoảnh khắc thử lửa của đất nước trước quân xâm lược Mỹ. Tài thơ của ông đã ngay lập tức được chú ý với những bài thơ tuyệt tác như "Vườn trong phố", "Tầng năm", "Những con đường"...
Ai đã từng trải qua tuổi thanh xuân ngày đó ở thành phố, có lẽ nào không thuộc những câu thơ huyền diệu của Lưu Quang Vũ: "Nơi ban mai cỏ ướt sương rơi/ Một giọt nhỏ mơ hồ trên má/ Hơi lạnh nào ngón tay cầm se giá?/ Suốt cuộc đời cũng chẳng hiểu vì sao...". Ngay từ năm 20 tuổi, Lưu Quang Vũ đã có tập thơ in chung với Bằng Việt "Hương cây - Bếp lửa".
Lưu Quang Vũ ra quân từ năm 1970 và lăn lộn làm rất nhiều nghề để kiếm sống. Có lẽ nhờ thế mà ông có vốn sống để bước vào một cuộc thăng hoa sáng tạo thứ hai sau thơ, đó là thăng hoa trong thế giới kịch nói.
Bắt đầu từ khi vở "Sống mãi tuổi 17" được viết ra và được công diễn năm 1979, mạch sáng tạo kịch nói trong Lưu Quang Vũ chảy cuồn cuộn như "Người tốt nhà số 5", "Hồn Trương Ba da hàng thịt", "Khoảnh khắc vô tận", "Lời thề thứ 9", "Điều không thể mất"...
Trên một chuyến xe định mệnh mùa thu 1988 từ Hải Phòng trở về Hà Nội, cả gia đình Lưu Quang Vũ đã gặp tai nạn giao thông thảm khốc, để lại dương thế bao tiếc thương quặn lòng. "Vua kịch nói" đã được Nhà nước ta truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt II-2000)