Năm nào cũng vậy, khi những cánh hoa sở bung cánh trắng muốt trên những sườn đồi, thấp thoáng sau nếp nhà ngói đỏ của đồng bào dân tộc Dao, Sán Chỉ, tôi lại lên các thôn, bản của đồng bào ra định canh định cư ở dải đất biên cương của Tổ quốc.
Những tên bản Phật Chỉ, Phai Lầu (xã Đồng Văn), Trình Tường (xã Hoành Mô), Thán Phún Thôn (xã Bắc Sơn), Lý Nố, Pò Hèn (xã Hải Sơn, TP Móng Cái)… đã in đậm trong trí nhớ. Được chứng kiến từ ngày đầu khi bà con “tay xách nách mang”, gói ghém đồ đạc từ quê cũ ra thôn, bản mới định cư nên mỗi lần trở lại tôi cảm nhận rất rõ cuộc sống đang đổi mới từng ngày trên những vùng đất trước đây “trắng” dân cư.
Bản mới Phai Lầu (xã Đồng Văn, Bình Liêu).
Vạn sự khởi đầu nan
7 năm trước, tôi có may mắn được cùng Đoàn cán bộ Chi cục Định canh định cư (nay là Chi cục Phát triển nông thôn) đưa 20 hộ dân là đồng bào dân tộc Dao của xã Đại Dực (huyện Tiên Yên) ra định cư ở Thán Phún Thôn (xã Bắc Sơn, TP Móng Cái). Tôi như hoà cùng cảm giác vừa háo hức vừa bịn rịn của đồng bào khi chia tay những hộ ở lại đi xây dựng quê mới. Hôm đó, từ 4 giờ sáng những hộ trong diện di dân kinh tế mới đã tập hợp đông đủ tại sân trường THCS xã Đại Dực. Ba chiếc xe ô tô chất đầy đồ đạc được giằng buộc cẩn thận, những đứa trẻ, nhiều bà mẹ lần đầu tiên được đi xe ô tô háo hức đứng ngồi không yên chờ giờ xe chuyển bánh. Do trời mưa, đường trơn nên đoàn xe phải di chuyển rất chậm, đến hơn 2 giờ chiều mới ra đến Thán Phún Thôn. Trong khi mọi người đang nhận đồ, rồi khẩn trương sắp xếp đồ đạc vào nhà tôi thấy anh Sằn A Coóng, một trong những hộ di dân ra đợt đó ánh mắt đăm chiêu nhìn ngắm rất kỹ ngôi nhà mới mái ngói đỏ tươi vẫn còn thơm mùi vôi mới của mình. Rồi anh đi thẳng ra khu đất rộng khoảng chừng 5 ha vừa được phát dọn sạch cỏ bụi, lau lách để cả thôn làm đất canh tác. Anh Coóng bảo: Mình rất lo ở quê đúng là khó khăn thật, đất đai canh tác không có, nhà cửa chật chội vì đông anh em nhưng dù sao thì vẫn có người hỗ trợ giúp đỡ, cũng quen với cuộc sống như thế. Mặc dù mình đã ra đây mấy lần để nhận đất, nhận nhà để xem xét điều kiện sống ở nơi mới nhưng vẫn thấy mọi thứ mới mẻ, lạ lẫm không biết bà con trong thôn có sinh sống gắn bó được không?
Đúng là lo lắng của anh Coóng hoàn toàn có cơ sở. Bởi vùng đất này trước đây toàn là bụi sim và lau lách, những quả đồi trọc phủ kín sương mù giá buốt, chủ yếu là đồi núi dốc. Đất đai thì manh mún nên cần nguồn kinh phí rất lớn để đầu tư hệ thống thuỷ lợi. Vì vậy những khu vực này đều là những điểm “trắng” dân cư. Phải mất rất nhiều công sức trong tổ chức rà phá bom mìn, khai khẩn đất hoang các cơ quan chức năng mới tạo được vài ha đất canh tác nông nghiệp cho đồng bào. Đồng chí Phan Văn Cần, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn cho biết: Ngay chính chúng tôi - những người “cầm trịch” trong việc tổ chức di dân ra vùng kinh tế mới, rồi các đơn vị lực lượng vũ trang nhiệt tình giúp dân cũng thấy lo lắng. Không riêng gì ở Thán Phún Thôn mà ở tất cả các thôn, bản đưa dân ra ra định cư đều vậy. Điều kiện sản xuất khó khăn, các hộ ra định cư tuy đã có chọn lọc nhưng tập quán canh tác cũ đã ăn sâu vào nếp nghĩ, cách làm. Ra nơi ở mới điều kiện sống, canh tác mới chưa chắc bà con đã quen và bắt nhịp ngay được với cuộc sống và có thể sẽ sinh tâm trạng chán nản rồi lại bỏ về quê cũ. Thế nhưng bao trùm hơn, lớn hơn tất cả đều hy vọng ở tương lai tươi sáng mới bởi những khu vực lựa chọn đưa dân ra sinh sống cũng có những điều kiện khá thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc. Với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, của các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn sẽ giúp bà con sớm ổn định cuộc sống nơi quê mới.
Ấm no nơi quê mới
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tuyến biên giới Việt - Trung, từ năm 2003 tỉnh đã lồng ghép các chương trình, dự án để tập trung nguồn lực đầu tư các công trình trọng điểm mang tính cấp thiết nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Cùng với đó là đầu tư đẩy mạnh phát triển sản xuất, chuyển đổi ngành nghề, cơ cấu mùa vụ, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, giải quyết việc làm tăng thu nhập và ổn định đời sống cho đồng bào. Mặt khác tỉnh đẩy nhanh tiến độ di dân, bố trí, sắp xếp lại dân cư dọc tuyến biên giới để phát triển sản xuất. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên bộ với Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương của Quảng Ninh tập trung nguồn lực hướng dẫn đồng bào khu vực giáp biên phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.
Tính đến hết năm 2008, tổng kinh phí đầu tư cho công tác này là hơn 10 tỷ đồng. Các hộ dân ra định canh định cư ở các xã vùng biên giới đã khai hoang mở rộng được hơn 1.000ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp và trồng rừng, gần 400ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản. Đến nay, nhìn chung đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào trên tuyến biên giới đã được cải thiện cả về chất và lượng. Các xã, thôn bản ở khu vực giáp biên đã tự cân đối được lương thực, ở các thôn bản đều có trường học được cao tầng hoá. Các xã đều có chợ, có điện lưới quốc gia, đường giao thông trải nhựa đến trung tâm xã, một số thôn, bản đã có đường bê tông. Một số mô hình sản xuất mới, có hiệu quả kinh tế cao phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng miền núi như nuôi bò sinh sản, trồng dong riềng, tre măng, trồng rừng dần được hình thành dọc tuyến biên giới. Nhiều khu vực trên tuyến vành đai biên giới Việt - Trung trước đây là vùng “trắng” không có dân cư thì nay trở thành những vùng kinh tế mới phát triển, tạo thế trận quốc phòng toàn dân ngày càng vững chắc, tạo thế và lực cho vùng biên ngày càng phát triển giàu mạnh.
Trên những thôn, bản mới phủ màu xanh của ngô, của lúa, những vạt đồi trơ cằn sỏi đá trước kia nay đã lên ngút ngàn màu xanh của thông của keo. Trên bản mới có những lớp học với ê a tiếng trẻ đánh vần. Thán Phún Thôn hôm nay đã mướt lên màu xanh của cuộc sống mới. Vừa qua, theo chân Đoàn cán bộ Chi cục Phát triển nông thôn lên các bản định canh định cư Trình Tường (Hoành Mô), Phật Chỉ, Phai Lầu (Đồng Văn, Bình Liêu) tôi được chứng kiến cuộc sống mới nơi dải đất biên cương của Tổ quốc. Con đường dọc tuyến biên giới đang tiếp tục được nâng cấp và sửa chữa. Hai bên đường trên những hòn đá nhô lên từ giữa lòng suối cạn mùa khô thấy phủ một màu trắng tinh, đồng chí cán bộ biên phòng Đồn 23 đi cùng cho biết đấy là bà con các bản đang phơi sắn. Những ngôi nhà ngói đỏ thấp thoáng trong hơi lạnh đầu đông gặp chị Chìu Tài Chắn, bản Trình Tường vừa đi rừng về. Chị cho biết: Mặc dù bản chỉ có gần chục hộ dân nhưng Lâm trường 155 vẫn đầu tư làm đường, kéo điện, xây dựng bể chứa nước sạch cho bà con trong bản dùng. Lại còn dựng trường học mời thầy giáo lên dạy chữ cho các em học sinh trong bản. Về bản định cư được gần 5 năm gia đình chị Chắn mua được ti vi, nuôi được một đàn trâu 8 con, trồng hơn 1ha rừng keo. Theo giới thiệu của đồng chí bộ đội biên phòng trong bản có hộ gia đình ông Chìu Dì Nẩy nuôi được 16 con trâu, hơn 20 con dê, hàng chục con lợn thịt. Các hộ dân trong bản đều đã nhận đất trồng và bảo vệ rừng.
Mỗi lần được trở lại thăm những bản định canh định cư của đồng bào nơi miền biên cương, thấy cuộc sống của đồng bào ngày càng no ấm, đầy đủ, tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn về hiệu quả của một chính sách lớn xây dựng phát triển kinh tế - xã hội vùng biên.