Amiăng và những câu hỏi cần lời giải đáp

Amiăng có hại cho sức khỏe, đó là điều chắc chắn. Nếu có thể thì không nên sản xuất, không nên sử dụng các sản phẩm có chứa amiăng. Tuy nhiên, với một đất nước còn nghèo như ở Việt Nam, điều đó là không thể. Vậy, sản xuất, quản lý sản phẩm chứa amiăng như thế nào cho an toàn? Những khuyến cáo cần có nào và chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động tiếp xúc với amiăng ra sao là những câu hỏi cần được trả lời.

Độc hại đã rõ…


Tại buổi tọa đàm về thực trạng quản lý Amiăng tại Việt Nam, được tổ chức tại Cục kiểm soát ô nhiễm (Bộ Tài nguyên và Môi trường), các chuyên gia, đại diện bộ ngành liên quan đều khẳng định, Amiăng thực sự có hại cho sức khỏe của những người tiếp xúc với chất này.

Giống như silic đioxyl, amiăng có khả năng phản ứng mạnh trong chuỗi phản ứng sinh học của cả con người và động vật. Thêm nữa, amiăng tạo ra những phản ứng ác tính, những yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe con ngưoiừ. Trong nhiều nghiên cứu cho thâấ sự tương quan giữa việc nhiễm amiăng và những bệnh u ác tính, và những bệnh ung thư ít phổ biến khác như ung thư dạ dày, thực quản, ruột thừa, trực tràng… Tuy nhiên, ung thư có thể không phát triển ngay trong thời gian người lao động tiếp xúc với amiăng. Đặc biệt, những bệnh ung thư do nhiễm amiăng phát triển ngay cả khi tiếp xúc trong giới hạn chấp nhận được (1sợi/cc).


Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên Hương – Phó trưỏng phòng sức khỏe nghề nghiệp và tai nạn thương tích - Cục Y tế dự phòng và Môi trường (Bộ Y tế), bất kỳ người nào tham gia vào những ngành công nghiệp có tiếp xúc với amiăng đều có nguy cơ nhiễm bệnh liên quan đến amiăng, bao gồm cả những bệnh u bướu. Phơi nhiễm có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, lâu dài hoặc trong thời gian ngắn. “Có những bằng chứng cho thấy một số phụ nữ mắc bệnh khhi họ tiếp xúc với amiăng khi giặt đồ cho đàn ông - những người tiếp xúc với amiăng.

Ảnh minh họa

 Tiến sĩ Phạm Văn Hải: Bộ Y tế còn nợ người lao động một câu trả lời

Còn Tiến sĩ Phạm Văn Hải, Giám đốc Trung tâm khoa học môi trường và phát triển bền vững - Viện nghiên cứu Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động thì phân tích: Về nguyên tắc, sợi amiăng khá xù xì, khi đi vào những phế nang nhỏ chứa không khí trong phổi sẽ nằm lại trong đó. Nó làm cho khả năng thở của người ta kém. Khi hít phải nó, nhiều hay ít cũng độc hại, bất kể là nồng độ bao nhiêu - kể cả 1 sợi – ông Hải nhấn mạnh.


Có mặt tại buổi tọa đàm, ông Yoichi Nishimura, Phó trưỏng phòng Môi trường không khí, Vụ Quản lý môi trường, Bộ Môi trường Nhật Bản cho biết, tại Nhật Bản, amiăng từ lâu đã được đưa vào danh mục các chất gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, phải dần loại bỏ trong sản xuất và sử dụng. Ông Yoichi Nishimura dẫn chứng một số bài báo của Nhật cho biết đã có những cái chết cũng như một số bệnh ngoài da liên quan đến amiăng.


… nhưng lợi cũng nhiều?


“Việt Nam còn nghèo, tấm lợp amiăng lại rất phù hợp điều kiện kinh tế của nước ta, dân ta” – đó là quan điểm của ông Võ Quang Diệm, Phó vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng - Bộ Xây dựng. Theo ông Diệm, hiện có 3 loại amiăng, trong đó loại xanh và nâu đã bị cấm ở Việt Nam do tính chất nguy hiểm đối với sức khỏe con người và môi trường. Còn loại amiăng trắng, theo ông Diệm, là loại hiện đang được phép lưu hành tại Việt Nam có rất nhiều ưu điểm.

Ảnh minh họa

 Ông Võ Quang Diệm: amiăng có nhiều lợi ích to lớn....

Những năm gần đây, mỗi năm Việt Nam sản xuất và tiêu thụ khoảng 80 triệu m2/năm, sử dụng bình quân 60.000 tấn amiăng trắng. Loại tấm lợp này có chất lượng tốt, chịu được những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, giá rẻ, được sử dụng rộng rãi ở nhiều khu đô thị, khu công nghiệp, nông thôn và vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt, loại tấm lợp này rất có ý nghĩa đối với việc khắc phục hậu quả thiên tai lũ lụt và các chương trình xóa đói giảm nghèo. Loai amiăng trắng này chỉ xếp thứ 119 về mức độ độc hại và không bị cấm buôn bán, vận chuyển bằng đường biển (trong khi 2 loại amiăng xanh và nâu xếp thứ 92 trong danh mục chất gây độc hàng đầu..


Quan điểm của ông Diệm là không thể đánh đồng mức độ độc hại của các loại amiăng với nhau để loại bỏ hòan toàn. Bộ Xây dựng cũng không có ý định ngừng sản xuất amiăng hay thay thế bằng vật liệu khác. Ông Diệm cho rằng, việc loại bỏ hòan toàn amiăng ra khỏi đời sống là “thiếu khách quan, không đứng trên quan điểm khoa học”. Vấn đề chỉ là quản lý như thế nào, quy định về nồng độ an toàn, các biện pháp xử lý môi trường, khuyến cáo người dân ra sao mà thôi. “Năng lượng nguyên tử đã gây ra những thảm họa khủng khiếp ở Hiroshima, Naoashaki, Trecnobel… nhưng nhân loại không ngừng nghiên cứu sử dụng nó có kiểm soát để phục vụ mục đích có lợi cho con người” – ông Diệm nhấn mạnh.


Những câu hỏi chưa được trả lời


Tại Việt Nam , tác hại của amiăng đến sức khỏe người lao động và người sử dụng cũng đã được Chính phủ và các cơ quan quản lý quan tâm từ nhiều năm nay. Bằng chứng là đã có 2 loại amiăng bị cấm. Một số các đề tài nghiên cứu về mức độ nguy hại của amiăng cũng đã được Bộ Y tế và Bộ Xây dựng hợp tác tiến hành.


Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Liên Hương, Phó trưởng phòng Sức khỏe nghề nghiệp và tai nạn thương tích (Cục Y tế dựphòng và Môi trường) thì, trên thực tế, trong 40 năm qua, không có những nghiên cứu chuyên sâu có tính hệ thống về tác động của amiăng đến môi trường và sức khỏe của những công nhân tiếp xúc với amiăng.


Chính vì vậy, trong vòng 30 năm (từ 1976 – 2006), trong 23.000 trường hợp mắc bệnh ho khí bụi, chỉ có 3 trường hợp bệnh nghề nghiệp được thống kê liên quan đến amiăng. Còn theo điều tra về sức khỏe của những ngườii lao động tiếp xúc với amiăng trong quá trình săn xuất gách ngói xi măng – amiăng, thì mới có 4 trường hợp bị bệnh liên quan đến amiăng.


“Những con số người mắc bệnh chỉ ra trên đây không phải là những con số chính xác về bệnh nhân liên quan đến amiăng” – bà Hương khẳng định. Theo bà Hương, trong khi kiểm tra cho thấy nồng độ amiăng ở các nhà máy sản xuất tấm lợp luôn cho thấy ô nhiễm vượt tiêu chuẩn, tuy nhiên, các thiết bị của Việt Nam chưa đủ khả năng xác định được các sợi amiăng trong phổi bệnh nhân. Hơn nữa, quá trình thu thập số liệu cho thấy, hầu hết các bác sĩ khi thăm khám cho bệnh nhân đều không hỏi về tiểu sử bệnh nhân (có làm việc liên quan đến amiăng trong quá khứ dài hay không). Vì vậy, rất khó xác định được mối liên hệ giữa amiăng và bệnh tật. Tiến sĩ Hương cũng cho biết, chưa có nghiên cứu quy mô nào về mối liên quan giữa người tiếp xúc với amiăng và bệnhphổi cũng như bệnh u biểu.


“Có thể nói, Bộ y tế còn nợ người dân một câu trả lời – đó là amiăng nguy hiểm ở mức độ nào” - Tiến sĩ Phạm Văn Hải bức xúc. “Tôi cho rằng, trong sản xuất các sản phẩm có chứa amiăng còn khá nhiều lỗ hổng. Đầu tiên là lỗ hổng trong đầu con người, đầu người quản lý. Người ta nghe tuyên truyền rằng amiăng độc hại, và 100% người được hỏi cho rằng nó độc hại. Nhưng khi được hỏi là cần phải phòng ngừa như thế nào thì rất ít người biết, hoặc có biết cũng không tuân thủ”.


Đồng quan điểm với tiến sĩ Hương, Tiến sĩ Hải cũng cho rằng, lỗ hổng trong công tác quản lý sức khỏe người dân còn rất kém. “Chính vì vậy, ở một môi trường lao động độc hại như vậy mà qua hàng mấy chục năm mới chỉ phát hiện có vài trường hợp bệnh liên quan đến amiăng. Cơ chế gây bệnh của bụi amiana là 10-20 năm mới phát bệnh. Do thời gain dài, nên người ta quên bẵng đi là mình có tiếp xúc với amiăng, hoặc không cảm thấy rằng mình bị bệnh do cái đó gây nên. Công tác khám chữa, chẩn đoán bệnh của chúng ta cũng kém. Do đó số liệu về bệnh do amiăng cũng kém” – ông Hải phân tích.


Nếu căn cứ vào số liệu rất ít những bệnh nhân bị mắc bệnh do liên quan đến amiăng mà chúng ta thống kê được thì không thể có lý do để xuất với các nhà quản lý và Chính phủ về các biện pháp quản lý hoặc có thể cám sản xuất và sử dụng amiăng. Nếu không được nghiên cứu, điều tra một cách bài bản, chính xác thì không thể thuyết phục được người dân cảnh giác với sự nguy hiểm mà amiăng có thể mang đến cho họ - Tiến sĩ Hương chia sẻ.


Nhiều nước trên Thế giới đã cấm sản xuất và sử dụng amiăng, trong đó có Nhật Bản. Tổ chức Y tế Thế giới cũng đã đưa ra cảnh báo. Còn tại Việt Nam , cho tới thời điểm này vẫn tồn tại hai luồng ý kiến khác nhau: Một là cấm hoàn toàn (có lộ trình) và một là vẫn cho tiếp tục sản xuất, sử dụng vì lợi ích kinh tế. Việc tranh luận thì cứ kéo dài dài, còn người lao động thì vẫn hàng ngày tiếp tục chịu sự ảnh hưởng của chất độc hại này.


Vì những lợi ích mà amiăng mang lại, chúng ta có thể không cấm sản xuất và sử dụng amiăng. Tuy nhiên, nhưng tác hại, những sự nguy hiểm thực sự của nó đối với sức khỏe thì người dân có quyền biết một cách chính xác, công khai. Từ đó, họ cũng có quyền lựa chọn hoặc sử dụng nó, hoặc từ chối dựa trên các cơ sở khoa học chứ không phải do mù tịt thông tin hoặc qua lời đồn thổi. Việc nghiên cứu một cách bài bản, khoa học, đưa ra lời cảnh báo chính xác là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà hiện nay, câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ.