Ấn tượng Than - Khoáng sản Việt Nam

Đọc sách tìm hiểu về than đá và công cuộc khai thác than đá ở Việt Nam, chỉ thấy người ta kể về truyền thuyết có những người ở vùng đất Kiến An (Hải Phòng) đi đốn củi vùng núi thuộc huyện Đông Triều bây giờ, một lần lấy những hòn đá đen kê làm ông đầu rau để nấu nướng, đốt không ngờ các hòn đá bén lửa, rồi hồng rực lên, “phát ra ánh sáng xanh kỳ ảo, nóng đỏ mãi không tắt”.

Ấn tượng Than - Khoáng sản Việt Nam ảnh 1
Đón nhận bức Dụ của vua Minh Mạng.

Ấn tượng 1

Đọc sách tìm hiểu về than đá và công cuộc khai thác than đá ở Việt Nam, chỉ thấy người ta kể về truyền thuyết có những người ở vùng đất Kiến An (Hải Phòng) đi đốn củi vùng núi thuộc huyện Đông Triều bây giờ, một lần lấy những hòn đá đen kê làm ông đầu rau để nấu nướng, đốt không ngờ các hòn đá bén lửa, rồi hồng rực lên, “phát ra ánh sáng xanh kỳ ảo, nóng đỏ mãi không tắt”. Thấy lạ, họ nhặt về một ít bán cho những người làm nghề rèn dùng thử. Thấy được, lần sau họ lấy về nhiều thêm. Họ gọi đó là than đá. Sau đó là nói đến thời vua Minh Mạng có nghe thấy loại than này liền lệnh cho chở về triều đình một thuyền, khoảng 10 vạn cân. Và cuối cùng là đến thực dân Phápvào đô hộ, mở công cuộc khai thác than.

Nghiễm nhiên, theo thông tin mà tài liệu, sách báo cung cấp như vừa nói trên, ai cũng nghĩ người Pháp là kẻ đầu tiên khai thác than đá ở nước ta theo lối công nghiệp.

Nhưng có những người vẫn không thoả mãn các thông tin ấy. Trong đó có các lãnh đạo của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV). Họ đã nhờ các nhà sử học nghiên cứu hoặc tìm giúp tài liệu trả lời cho câu hỏi “Ai là người cho khai thác than đá ở Việt Nam đầu tiên theo lối công nghiệp?”. Câu hỏi này mãi đến ngày 8 tháng 8 năm nay (2007) mới được chính thức trả lời, không phải bởi các nhà sử học, mà chính là bởi các nhà lãnh đạo Tập đoàn TKV. Số là, khi đến Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, các cán bộ ở đây cho biết Trung tâm đang còn lưu giữ một bức Dụ của vua Minh Mạng nói về việc cho phép Tổng đốc hạt Hải Yên - vùng Quảng Ninh ngày nay (?) - Tôn Thất Bật khai thác than đá ở Đông Triều. Xin đăng nguyên văn bức Dụ (bản dịch): “Tháng này Tổng đốc Hải Yên là Tôn Thất Bật tâu xin thuê dân công đào mỏ lấy than ở núi An Lãnh, xã Đông Triều thuộc hạt đó. Trước đây Bộ (Hộ - người dịch chú thêm) đã tư cho hạt đó đào lấy mười vạn cân than đúng kỳ chở về kinh đô giao nạp. Trẫm nghĩ nhân dân hạt đó vừa mới lại được hơi an ổn, sao nỡ đem việc không gấp gáp mà làm họ vất vả. Bọn Bật lại tâu hạt đó sau biến cố (mới dẹp giặc xong - người dịch chú) vụ mùa vừa mất, thu hoạch kém, đời sống rất khó khăn, dân đều tình nguyện làm thuê để lấy tiền nuôi thân. Nay nghĩ dân trong hạt phần lớn nghèo hèn, đáng thương xót chu cấp. Lệnh chuẩn theo lời cầu xin. Các ngươi nên thận trọng chớ sơ suất để an uý lòng Trẫm muốn ra ân cho dân.

Khâm thử.

Minh Mệnh năm thứ 20 ngày mồng 6 tháng 12

(Tức ngày 29 tháng 12 năm 1840 - người dịch chú)”.

Phải nói, lãnh đạo TKV tìm ra được bằng chứng này họ rất mừng. Không ai khác, người Việt Nam mới là những người đầu tiên khai thác than đá ngay trên xứ sở quê hương mình chứ không phải bọn thực dân, mà còn khai thác trước chúng nhiều chục năm.

Tôi nhớ hôm mồng 8 tháng 8 năm 2007 ấy, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn TKV Đoàn Văn Kiển - một trong những người có công lớn giúp tìm ra được bản Dụ - vào Huế để trao cho Trung Tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế số tiền 3,2 tỷ đồng là tiền quyên góp của CNCB Ngành Than - Khoáng sản Việt Nam để góp vào trùng tu một hạng mục trong quần thể di tích lăng Minh Mạng mà từ đây được coi là Ông Tổ của Ngành và đón nhận bức Dụ của Ông Tổ do đích thân Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Thừa Thiên - Huế trao. Trong lời phát biểu của mình, ông nói, đây như một sự giải toả khi biết đã tìm ra được Vị Tổ của Ngành mà ông đã canh cánh đi tìm bao năm nay, giọng ông nghẹn ngào vì xúc động, cứ chực không cất được lên lời nữa.

Ấn tượng Than - Khoáng sản Việt Nam ảnh 2
Nạo vét, cải tạo kè sông Mông Dương.

Ấn tượng 2

Trải bao năm, từ 1840 đến nay đã là 167 năm than đá được khai thác ở Việt Nam, nhiều nhất, dày đặc nhất là ở Quảng Ninh, trong đó có một thời gian không ngắn do thực dân Pháp khai thác quy mô lớn. Đào mỏ, lấy than thời thực dân Pháp, rồi một thời kỳ dài chúng ta lấy theo kiểu bóc ngắn cắn dài, ít chú ý đến môi trường, do đó môi trường bị huỷ hoại nghiêm trọng, đặc biệt là vùng tỉnh Quảng Ninh. Bức xúc trước “viễn cảnh” không mấy tốt đẹp đó, TKV đã và đang nỗ lực khắc phục. Trong đó có việc thành lập quỹ bảo vệ môi trường (BVMT), một việc chưa có tiền lệ. Tiếp đó, từ năm 2005 TKV xác định công tác BVMT vùng than Quảng Ninh chuyển hẳn sang thế “chủ động bảo vệ môi trường”, đã làm được nhiều việc cụ thể. Như chuyển nhà sàng tuyển, kho than ra khỏi trung tâm thị xã Hòn Gai (nay là TP Hạ Long); cải tạo các bãi thải Nam Đèo Nai, Khe Rè, Nam Lộ Phong, Đông Cao Sơn, V11 Núi Béo... ; cải tạo sông Mông Dương, Vàng Danh, xây kè, làm các hệ thống đập chắn trên địa bàn thị xã Cẩm Phả, Hạ Long, Uông Bí; đầu tư mua 2 xe chuyên dùng vệ sinh môi trường bàn giao cho địa phương sử dụng; đóng góp hơn 12,7 tỷ đồng thực hiện một số công trình trên địa bàn tỉnh góp phần cải thiện điều kiện môi trường như cải tạo đường Tràng Lương, đường qua thị trấn Trới, xây dựng cầu Bắc Sơn; xây dựng các tuyến đường chuyên dùng vận chuyển than để không chạy theo đường quốc lộ; áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường v.v.

Dù vậy, TKV cũng nhận thức rõ, tuy Ngành đã chuyển sang thế “chủ động BVMT” vài năm nay, nhưng chất lượng môitrường vùng than Quảng Ninh nhìn chung chưa được cải thiện nhiều, có nơi, có lúc còn có chiều hướng xấu đi khiến cho lãnh đạo chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư còn có nhiều ý kiến không đồng tình. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do có những bất cập giữa gia tăng về sản lượng khai thác than và sự không đáp ứng kịp của cơ sở hạ tầng giao thông và hậu cần vùng mỏ, do có sự chủ quan và thiếu trách nhiệm của lãnh đạo của một số đơn vị thành viên đối với công tác BVMT, sự chưa kịp thời điều chỉnh và xây dựng quy hoạch tổng thể về BVMT tại các vùng khai thác, do sự hạn chế về tổ chức hệ thống BVMT trong toàn Tập đoàn và năng lực đội ngũ cán bộ quản lý môi trường các đơn vị và một số khó khăn khác.

Do đó TKV đã chỉ rõ, để thực hiện được những mục tiêu và nhiệm vụ BVMT cho giai đoạn 2007-2010 đã đặt ra, các đơn vị trực thuộc, các công ty con phải tiếp tục không ngừng nâng cao nhận thức, ý thức về BVMT cho cán bộ (kể cả cán bộ lãnh đạo đơn vị), công nhân và người lao động trong đơn vị; phải chuyển biến được nhận thức, ý thức về BVMT trở thành tự giác; người đứng đầu đơn vị phải nhận thức được trách nhiệm BVMT là vì sự tồn tại của đơn vị mình, vì sự nghiệp chung của Tập đoàn và vì cộng đồng, phải xuất phát từ tình yêu đối với vùng than, tình yêu đối với thợ mỏ và cộng đồng. Tập đoàn sẽ xem xét có các chế tài thích hợp, kể cả thay đổi vị trí của người đứng đầu đơn vị trong trường hợp cần thiết nhằm tạo ra bước chuyển biến tích cực trong ý thức và nhận thức về BVMT.

Các công việc cụ thể về công tác BVMT Vùng than Quảng Ninh từ 2007 đến 2010 như sau:

1. Năm 2007:

a) Ưu tiên đầu tư xây dựng các tuyến đường bộ chuyên dùng:

- Đường từ mặt bằng +56 Mạo Khê đến Bến Cân;

- Đường từ mỏ Phạm Hồng Thái đến Bến Đụn;

- Đường từ Vàng Danh đến cảng Đền Công;

- Đường từ mỏ 917, mỏ Hà Tu, Hà Lầm đến cảng Làng Bang;

- Đường từ mặt bằng Trung tâm Ngã Hai nối với đường 86;

- Đường từ mỏ Cọc Sáu ra cảng 10/10 và cảng Cầu 20;

- Đặc biệt là đường nối các mỏ Bàng Nâu, Khe Chàm, Cao Sơn, Bắc Cọc Sáu, Mông Dương với cụm cảng Mông Dương - Khe Dây.

Nhằm mục tiêu: Chậm nhất từ 01-01-2008 không chở than trên QL18A từ Đông Triều đến Mông Dương, chỉ còn 6 điểm giao cắt với QL18A là: (1), giao cắt tại Mạo Khê ra cảng Bến Cân; (2), giao cắt giữa QL18A với tỉnh lộ 333 ra cảng Bến Đụn; (3), giao cắt tại Uông Bí ra cảng Điền Công; (4), giao cắt tại Km6 Cẩm Phả; (5), giao cắt tại Cọc Sáu ra cảng 10/10 và cảng Cầu 20; (6), giao cắt tại khu 9 ra cảng Khe Dây. Cũng từ 01-01-2008 không còn chở than trên tỉnh lộ 337 đoạn Cái Đá - Cầu Bang.

b) Làm xong việc trồng cây phủ xanh bãi thải Nam Đèo Nai; bước đầu xử lý các bãi thải cao khu vực Hòn Gai, Cẩm Phả; xây xong đập Khe Rè mới.

2. Năm 2008:

a) Tập trung ưu tiên hai việc lớn, đồng thời khắc phục những bất cập, yếu kém về BVMT ở các công ty, xí nghiệp.

+ Việc thứ nhất:

- Đầu tư xây dựng mở rộng và nâng cấp đường sắt Vàng Danh - Điền Công và hệ thống băng tải chở than từ Vàng Danh, Nam Mẫu đến Nhà máy điện Uông Bí.

- Đầu tư xây dựng các tuyến băng tải chở than từ MB +56 Mạo Khê ra cảng Điền Công, từ mỏ Núi Béo ra Nhà máy Tuyển than Nam Cầu Trắng, từ Lép Mỹ ra cảng Km6 (Cẩm Thạch).

- Hoàn thành tuyến đường Bàng Nâu - Mông Dương - Khe Dây bao gồm cả cầu vượt; xây dựng đường nội bộ liên mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả.

- Khởi công xây dựng tổ hợp công nghiệp môi trường tại Cẩm Phả.

+ Việc thứ hai: Xử lý các bãi thải cao, hoàn thổ, trồng cây phủ xanh sườn bãi thải đã ổn định ở khu vực Mạo Khê - Đông Triều, khu vực Hòn Gai và khu vực Cẩm Phả để đến năm 2010 khi đi dọc đường 18A từ Đông Triều đến TP Hạ Long không nhìn thấy bãi thải lộ như hiện nay mà chỉ nhìn thấy màu xanh. ở khu vực Cẩm Phả: Bãi thải Nam Đèo Nai được phủ xanh vào cuối năm 2008 đầu 2009. Bãi thải 3 mỏ Cao Sơn, Đèo Nai, Cọc Sáu không còn uy hiếp đập Khe Rè.

+ Việc thứ ba: Cải thiện chất lượng nước các hồ liên quan tại vùng Đông Triều.

3. Năm 2009:

- Tập trung xử lý nước thải ở tất cả các mỏ, nhà máy tuyển than, các nhà máy, xí nghiệp khác, song song với việc hoàn thành các công việc còn lại của năm 2008 chuyển sang. Cải thiện chất lượng nước các hồ có liên quan ở vùng Đông Triều .

- Hiện đại hoá các cụm cảng Mông Dương - Khe Dây, 10/10, Km6 (Cẩm Thạch), Làng Khánh, Điền Công, Bến Cân, Bến Đụn.

4. Năm 2010:

Hoàn thành các mục tiêu đã đề ra của các năm trước và về cơ bản hình thành một số khu dân cư mới của Ngành Than như: Cọc 5, Hà Khánh, Cọc Sáu, Mông Dương, Vân Đồn, Bắc Yên Hưng - Nam Uông Bí.

- Các mỏ, nhà máy, xí nghiệp đạt tiêu chuẩn ban đầu: Xanh - Sạch.

Vĩ thanh

Đọc bức Dụ của vua Minh Mạng thấy toát lên vẻ thương dân, yêu dân, cho phép “bọn Bật” khai thác than cũng vì lẽ đó. Nay TKV cũng nhận thức rõ, BVMT là vì sự tồn tại của đơn vị mình, vì sự nghiệp chung của Tập đoàn và vì cộng đồng, phải xuất phát từ tình yêu đối với Vùng than, tình yêu đối với thợ mỏ và cộng đồng.

Và dứt khoát phải làm được công tác BVMT. Như vậy hẳn Vị Tổ sẽ ngậm cười nơi chín suối.

Cùng chuyên mục