Nhiều nghiên cứu trên người làm việc với trường điện từ tần số cực thấp trên 25 kV/m lâu năm cho thấy có các biến đổi về suy nhược thần kinh trung ương, thần kinh thực vật gây mệt mỏi cho các đối tượng.
"Sự hoạt động của con người, nhất là trong vài thập kỷ gần đây đã làm tăng cường độ trường điện từ TSCT trong môi sinh," GS. TSKH Nguyễn Mạnh Liên nói.
Trường điện từ TSCT (viết tắt theo tiếng Anh "Extremely low frequency fields"-ELF) trong thiên nhiên có giá trị rất thấp. Nhưng sự hoạt động của con người, nhất là trong vài thập kỷ gần đây đã làm tăng cường độ trường điện từ TSCT trong môi sinh.
Sự gia tăng này chủ yếu là do sự phát triển của nguồn điện và các hệ thống truyền tải điện phục vụ cho công nghiệp, giao thông, các thiết bị điện tử trong tin học và truyền thông cũng như trong sinh hoạt dân dụng.
Các công trình nghiên cứu khoa học và thực tế lâm sàng đã chỉ ra những biểu hiện bệnh lý của con người khi bị tác động bởi cường độ bức xạ lớn hoặc kéo dài.
Trường điện từ TSCT tự nhiên và nhân tạo
Điện từ trường TSCT trong thiên nhiên xuất hiện từ các điện tích giữa khí quyển và mặt đất. Sự biến đổi của cường độ điện trường do sự biến động của khí quyển, ví dụ như khi có sấm sét.
Ở tần số 50, 60 Hz, điện trường tự nhiên là 10-4 V/m. Cường độ đó rất yếu so với điện trường của mạng điện trong nhà khi các thiết bị điện làm việc. Điện trường phát ra từ mạng điện trong nhà mạnh hơn điện trường tự nhiên 103 – 106 lần
Nguồn bức xạ trường điện từ TSCT chính là các dây truyền tải điện cao thế, các thiết bị điện bao gồm toàn thể các thiết bị công nghiệp và dân dụng có tần số 50 Hz ở phần lớn các nước và 60 Hz ở Bắc Mỹ.
Tương tác vật lý với điện trường
Điện trường tác động lên bề mặt ngoài của cơ thể. Nhưng trường này thường làm rung động lông tóc người và vì vậy da có thể cảm nhận được. Điện trường cảm ứng bên trong cơ thể. Những trường này tác động lên cơ thể sống. Sự có mặt của chúng thường kèm theo các dòng điện do đặc tính dẫn điện của mô.
Những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chứng minh rõ ràng tác động trên ion các đại phân tử của tế bào gây nên tín hiệu cho các chất dẫn truyền thần kinh, hormon, kháng nguyên và kháng thể.
Nhiều thí nghiệm đã đã chứng minh trường điện từ TSCT tác động đối với việc bài tiết của các hạch, các tuyến kích thích việc sinh các Hormon, trao đổi ion Ca++ của tế bào não, phản ứng miễn dịch của tế bào lympho, kích thích các tế bào thần kinh và tỷ lệ tăng trưởng tế bào.
Tác hại trên động vật...
Những nghiên cứu về tác hại của trường điện từ TSCT được tập trung vào hệ thần kinh trung ương bao gồm cả sinh lý, siêu cấu trúc và biến đổi sinh hóa. Những biến đổi của thành phần huyết học, hành vi, khả năng sinh sản và phát triển. Các nghiên cứu thường được tiến hành trên động vật thực nghiệm loại nhỏ. Ngoài ra có một số ít nghiên cứu được thực hiện trên gia súc như lợn và khỉ.
Bảng 1: Kết quả các công trình nghiên cứu tác động của trường điện từ TSCT trên động vật trong thời gian từ 1975 – 1993
| Stt | Chỉ tiêu nghiên cứu | Cường độ điện trường (kv/m) | Động vật dùng thí nghiệm | Số công trình | Kết quả | Nội dung các biến đổi | |
| Không biến đổi | Có biến đổi | ||||||
| 01 | Hành vi động vật | 0,1 – 100 | Khỉ, lợn, chim câu, chuột cống, chuột nhắt, ong | 28 | 5 | 23 | Biến đổi về hoạt động và đáp ứng các kính thích. |
| 02 | Chức năng tạo huyết | 0,01 – 100 | Chó, thỏ, chuột cống, chuột nhắt | 23 | 9 | 14 | Biến đổi về hình thái bạch cầu và các công thức bạch cầu. |
| 03 | Chức năng nội tiết và các hằng số sinh hóa | 0,1 – 100 | Chó, thỏ, chuột cống, chuột nhắt, chuột lang | 18 | 10 | 8 | - Tăng cortico-steroid máu. - Tăng tiết adrenalin. -Giảm tiết testosteron |
| 04 | Tăng trưởng | 0,1 - 100 | Lợn, thỏ, gà, chuột cống, chuột nhắt, chuột lang | 24 | 14 | 10 | - Chậm lớn - Giảm thể trọng |
| 05 | Chức năng sinh sản | 1,6 - 100 | Lợn, gà, chuột cống, chuột nhắt | 16 | 10 | 6 | - Giảm đẻ trứng - Tăng số lượng dị dạng của thế hệ sau - Giảm số con - Giảm khả năng thụ thai |
... Và trên người
Nhiều nghiên cứu trên người làm việc với trường điện từ TSCT trên 25 kV/m lâu năm cho thấy, có các biến đổi về suy nhược thần kinh trung ương, thần kinh thực vật gây mệt mỏi cho các đối tượng.
Tiếp xúc với điên từ trường lâu năm, con người có thể bị suy nhược thần kinh trung ương, thần kinh thực vật dẫn đến tình trạng mệt mỏi. (Ảnh: H.Cát)
Asanova và Rakov (1966) nghiên cứu trên 45 đối tượng là công nhân trạm điện (Switch-yard worker) 500 kV thấy những biểu hiện khách quan và cảm giác chủ quan về rối loạn thần kinh thực vật, có đánh giá mức độ phơi nhiễm, không có nhóm đối chứng.
Sazanova (1967) nghiên cứu trên 211 đối tượng là công nhân trạm điện (400 – 500 kV) có đánh giá mức độ phơi nhiễm, nhận thấy các biến đổi thần kinh thực vật như tăng thời gian tiềm tàng, tăng các biểu hiện nhầm lẫn trong các test tâm sinh lý, không có nhóm chứng.
Fole và CS (1974), Fole (1973) nghiên cứu trên 9 đối tượng đã chuyển công tác từ trạm điện 200 kV sang trạm điện 500 kV, phơi nhiễm có mức độ là 15 kV/m cũng nhận xét như Asanova và Rakov (1966) nhưng có nhận xét thêm là các đối tượng bị rối loạn về thị giác, không có nhóm chứng.
Malboysson (1976) nghiên cứu trên 160 đối tượng trong đó 84 là công nhân trạm điện, 76 là công nhân đường dây. Bằng phương pháp phỏng vấn và khám nghiệm y học không nhận xét thấy có biến đổi khác thường. Các số liệu về phơi nhiễm không rõ ràng, không có nhóm chứng.
Robcrge (1976) nghiên cứu trên 160 đối tượng là công nhân trạm điện 735 kV. Các số liệu về phơi nhiễm không rõ ràng, công nhân cảm thấy lo âu. Tỷ lệ sinh con nam/nữ là 17/3, không có nhóm chứng.
Các nghiên cứu về dịch học môi trường: Strumz (1970) nghiên cứu sức khỏe của 70 nam, 65 nữ và 132 trẻ em trong 4 năm liền sống ở khoảng cách 25m tới đường dây 400 kV so với nhóm đối chứng 70 nam, 64 nữ và 120 trẻ em sống cách đường dây 175m nhận thấy có sự khác biệt về tỷ lệ ốm đau do các bệnh thông thường.
Wertheimer và Leeper (1979) cho biết tỷ lệ ung thư huyết của trẻ em ở bang Colorado sống cạnh đường dây tăng hơn nhóm đối chứng tới 2,3 lần.
Feychting M và CS (1996) cho biết trong năm 1993 có hai công trình nghiên cứu bằng phương pháp “trường hợp – đối chứng” (Case - control) đã nghi ngờ trường điện từ bức xạ từ các đường dây tải điện cao thế tạo ra ung thư ở trẻ em.
Ở Thụy Điển, Feychting chọn đối tượng nghiên cứu là 127.000 người từ 16 tuổi trở lên sống gần đường dây tải điện 220 hoặc 400 kV, cách 300m tới đường dây trong thời gian từ 1960 đến 1985. Các trường hợp ung thư được ghi nhận trong hồ sơ về ung thư của các bệnh viện Thụy Điển. Mỗi một trường hợp ung thư được đối chiếu ngẫu nhiên với 4 đối tượng kiểm chứng khác nhau. Trong nghiên cứu chỉ xem xét các trường hợp ung thư huyết, ung thư hạch lympho và ung thư hệ thần kinh trung ương.
Các tiêu chuẩn cho phép
Ở vương quốc Anh, một khuyến cáo của Ủy ban bảo vệ phóng xạ coi 10kV/m là giới hạn an toàn, cho phép làm việc với các giá trị cao hơn nhưng phải bảo đảm số trung bình nhân là 10 kV/m. Nếu kéo dài thời gian tiếp tục với trường trên 20 kV/m có thể dẫn đến một dòng điện trong cơ thể là 0,5mA gây hại.
Ở Nhật Bản, Bộ Thương mại và Công nghiệp đã qui định chiều cao tối thiểu của các đường dây tải điện và các khu vực cấm xây dựng và cấm người qua lại dưới đường dây. Theo quy định đó, điện trường (cách 1m từ mặt đất) an toàn là 3 kV/m (số trung bình nhân). Nhưng đối với các khu vực có ít dân cư đồng lúa, rừng, giới hạn cho phép này không bắt buộc phải thi hành nếu như đường dây tải điện không có nguy cơ gây hại cho con người.
Ở Hoa Kỳ, tiêu chuẩn cho phép của điện trường ở giới hạn mép ngoài của khu vực an toàn (Rights of way (ROW)) do tùy từng bang quy định, nhưng đều ở trong khoảng 1 – 3 kV/m. Tiêu chuẩn cho phép tối đa của giới hạn ngoài (ROW) là 7 – 11 kV/m. Phần lớn các bang ở Hoa Kỳ đều thống nhất với luật an toàn điện quốc gia là giới hạn dòng điện ở bên trong cơ thể không quá 5 mA (trung bình nhân).
Ở Việt Nam, tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên được quy định bởi Nghị định số 70/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng do phó chủ tịch Võ Văn Kiệt ký ngày 19/4/1987. Trong qui định này có viết:
Điều 6: Hàng lang bảo vệ đường dây điện cao áp trên không giới hạn bởi hai mặt phẳng song song với đường dây, có khoảng cách đến dây ngoài cùng khi không có gió về mỗi phía như sau:
| Điện áp | Đến 15 | 35 | 66 và 100 | 220 (230) | |
| (kV) | Dây bọc | Dây trần | |||
| Khoảng cách (m) | 1 | 2 | 3 | 4 | 6 |
Tiêu chuẩn 18 TCN – 03 – 94 của Bộ Năng lượng, Hà Nội, 1994, qui định:
“Điều 24: hành lang bảo vệ của ĐDK 500 kV là diện tích giới hạn bởi hai mặt phẳng đứng song song với đường dây có khoảng cách tới dây dẫn ngoài cùng là 7m khi dây dẫn không bị lệch và không nhỏ hơn 2m khi tính đến dây dẫn bị lệch nhiều nhất, được xác định trong thiết kế.
Khoảng cách nhỏ nhất từ dây dẫn ĐDK 500 kV đến mặt đất ở khu vực đông dân cư không được nhỏ hơn 14m, vùng ít dân cư – 10m, vùng khó qua lại – 8m, những nơi người đi bộ rất khó đến (mỏm đá, tảng đá, dốc núi) – 6m”.