Ba Chẽ - Đường thoát nghèo còn lắm gian nan

Phố huyện Ba Chẽ ngày thường vốn lặng lẽ giờ lại thêm tiêu điều do ảnh hưởng của cơn bão số 6 vừa đi qua. Mặc dù, những ngôi nhà, tuyến đường giao thông, công trình thuỷ lợi, nước sinh hoạt... bị hư hỏng nặng giờ cũng đang dần được khắc phục, nhưng trên nét mặt mỗi người dân nơi đây vẫn nặng trĩu lo âu.

Theo đánh giá của Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn huyện Ba Chẽ, tổng thiệt hại do cơn lũ gây ra trên địa bàn huyện, ước tính trên 100 tỷ đồng. Một thiệt hại rất lớn và nó lại càng lớn hơn đối với một huyện miền núi nghèo như Ba Chẽ. Nếu không có giải pháp giúp đỡ, hỗ trợ hữu hiệu thì cầm chắc khả năng nhiều hộ tái nghèo.

Ba Chẽ - Đường thoát nghèo còn lắm gian nan ảnh 1
Một hộ nghèo ở xã Nam Sơn (Ba Chẽ) đang dựng lại nhà sau bão số 6.

Ba Chẽ là huyện có xuất phát điểm thấp, kinh tế chậm phát triển, hạ tầng cơ sở còn quá thiếu và chưa đồng bộ, trình độ dân trí của người dân còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, trong những năm qua, tỷ lệ hộ nghèo của huyện luôn đứng ở mức cao. Trước thực trạng đó, tỉnh, huyện Ba Chẽ đã đưa ra nhiều giải pháp, trong đó quan tâm đến tăng cường phổ biến các mô hình kinh tế - xã hội có hiệu quả, biểu dương khen thưởng kịp thời các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác xoá đói giảm nghèo để tạo phong trào trong các lực lượng và cộng đồng tham gia thực hiện xoá đói giảm nghèo. Cùng với đó là tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước, của các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để đầu tư cơ sở hạ tầng giúp người dân phát triển kinh tế. Cụ thể, để giúp Ba Chẽ thoát nghèo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã có hẳn cơ chế chính sách riêng cho huyện và phân công Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chịu trách nhiệm trực tiếp giúp huyện thực hiện các chương trình phát triển kinh tế trên địa bàn. Bình quân mỗi năm từ các nguồn vốn, huyện được đầu tư từ 30 - 40 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhờ vậy, đã có 7 xã có đường bê tông đến trung tâm xã và có trường học cao tầng; 8 xã có điện lưới quốc gia, trạm y tế; 79% số dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh (thị trấn 84%, nông thôn 74). Đặc biệt, vừa qua tuyến đường Ba Chẽ - Lương Mông hoàn thành đã tạo điều kiện đi lại và mở ra cơ hội cho việc phát triển kinh tế cho bà con nhân nhân trong huyện.

Vốn là một huyện miền núi, với 95% diện tích đất tự nhiên là đất rừng, Ba Chẽ có thế mạnh về phát triển cây lâm nghiệp. Và đây được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Ngoài việc giao đất, giao rừng cho người dân trồng, quản lý và bảo vệ, nhiều dự án rừng trồng mới cũng được triển khai trên toàn huyện. Để tăng thêm thu nhập, tận dụng nguồn đất dưới những tán rừng phòng hộ, bà con đã tổ chức nhân rộng một số loài cây dược liệu có giá trị kinh tế cao như mã kích, sa nhân, riềng gió... Đối với rừng sản xuất bên cạnh các cây trồng truyền thống như quế, sa mộc, keo, bà con còn đưa thêm các cây trồng có thu nhập như: dó bầu, mả trúc, tre bát độ. Bởi vậy diện tích phủ xanh đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng góp phần bảo vệ đất, chống xói mòn, cải thiện môi trường. Từ năm 2006 đến nay, toàn huyện đã trồng được khoảng gần 9.000 ha rừng tập trung. Bên cạnh việc trồng rừng, thì việc sản xuất nông nghiệp cũng được chú trọng. Tuy diện tích đất canh tác ít nhưng nhờ có những ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa giống mới có năng suất cao vào gieo trồng nên năng suất cũng dần được cải thiện, năng suất lúa bình quân trên toàn huyện đạt 43 tạ/ha.

Nhìn vào những kết quả này, có thể thấy, trong những năm gần đây, tỷ lệ hộ nghèo của huyện Ba Chẽ đã  giảm đáng kể, đời sống của nhân dân đã được nâng cao, trung bình mỗi năm giảm được 5,89%. Nếu như năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo của huyện đứng ở mức 52,13% thì đến năm 2007 đã giảm xuống còn 34,45%, số hộ đói cơ bản không còn. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo ở đây chưa thật bền vững đối với một số hộ gia đình và một số xã hiện tượng tái nghèo vẫn còn lớn. Thêm nữa, tỷ lệ hộ nghèo giữa các xã, thị trấn trong huyện còn có sự chênh lệch khá cao (xã cao nhất là 57,17%, xã thấp nhất là 10,63%). Hiện nay, trên địa bàn huyện vẫn còn 37 thôn bản đặc biệt khó khăn, trong đó có tới 13 thôn bản có tỷ lệ hộ nghèo từ 70-90%. Trong số 7 xã thì chỉ có xã Lương Mông, Minh Cầm mới thoát khỏi danh sách các xã đặc biệt khó khăn, còn lại 5 xã vẫn nằm trong diện 135. Tìm hiểu nguyên nhân của các hộ nghèo, được biết phần lớn là họ chưa tận dụng được tiềm năng thế mạnh của  địa phương trong việc phát triển kinh tế. Một số cơ chế, chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo còn thiếu đồng bộ, chưa phù hợp. Đặc biệt là số hộ nghèo thường rơi vào các gia đình đông con, thiếu sự hiểu biết về mọi mặt, lười lao động, chưa tự phấn đấu vươn lên thoát nghèo, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại. Thêm nữa với một địa hình đồi núi phức tạp hay xảy ra thiên tai như Ba Chẽ, giao thông thường bị ách tắc, chia cắt giữa các vùng vào mùa mưa bão; nhiều điểm dân cư vẫn chưa có đường điện, quỹ đất canh tác ít lại không chủ động được nguồn nước tưới tiêu, trình độ cán bộ cơ sở còn hạn chế... Những nguyên nhân này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến việc xoá đói giảm nghèo của địa phương. Mục tiêu của huyện Ba Chẽ phấn đấu đến năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 20%, trên địa bàn không còn xã đặc biệt khó khăn vẫn còn lắm gian nan.

Làm gì để thoát nghèo?

Tăng cường tuyên truyền và tăng nguồn lực đầu tư là mấu chốt.
(Ông Vũ Văn Thông, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH)

Tôi vừa theo một đoàn công tác khảo sát tình hình XĐGN ở 5 huyện thuộc diện khó khăn của tỉnh. Sau chuyến đi này, tôi thấy công tác XĐGN của tỉnh đã đạt nhiều kết quả cơ bản. Tuy nhiên, số hộ nghèo vẫn tập trung nhiều ở khu vực vùng sâu, vùng xa của tỉnh. Tôi đã hỏi chuyện nhiều hộ nghèo xem vì sao họ vẫn nghèo? Kết quả cho thấy rằng, nhiều gia đình đều rơi vào tình trạng nhận thức về XĐGN còn lơ mơ, thiếu vốn, kỹ thuật, công tác tuyên truyền, học tập các mô hình làm ăn tốt cho hộ nghèo còn hạn chế. Bên cạnh đó, ở nhiều thôn bản, do suất đầu tư lớn nên cơ sở hạ tầng còn chưa vươn tới, trong đó quan trọng nhất là hệ thống thuỷ lợi và đường giao thông. Bởi vậy, vẫn còn diện tích chỉ cấy được lúa 1 vụ, nông sản làm ra không bán được kịp thời... Để XĐGN thời gian tới đây đạt hiệu quả cao hơn, tôi cho rằng cần một số giải pháp tập trung: Trước hết cần tăng cường công tác tuyên truyền, đặc biệt tuyên truyền trong thôn, bản với nhau để họ cùng bảo nhau trồng cây gì, nuôi con gì cho hiệu quả; thứ  hai là các nguồn lực đầu tư cho công tác XĐGN nên tập trung hơn để có thể giải quyết được nhu cầu hạ tầng hay vốn đầu tư dứt điểm cho từng nơi, để đảm bảo hiệu quả đầu tư, tránh dàn trải. Ba là cần tăng cường xây dựng mô hình XĐGN để từ những mô hình này nhân rộng cho bà con học tập...

Cần có đất để phát triển sản xuất
(Anh LÝ CHIẾN, thôn Làng Lốc, xã Nam Sơn, huyện Ba Chẽ)

Gia đình tôi nhiều năm nay, thuộc hộ nghèo trong thôn. Bố tôi mất đi, tôi trở thành lao động chính trong nhà. Hoàn cảnh gia đình vốn đã khó giờ lại càng khó hơn. Ai cũng biết, người dân Ba Chẽ sống chủ yếu là trồng rừng, đất đai ở đây chủ yếu là đất đồi núi thích hợp với lâm nghiệp. Nhưng gia đình lại không có đất trồng rừng. Bởi lẽ, năm 1997 khi gia đình chúng tôi chuyển nhà đến đây ở thì chính quyền địa phương đã làm xong thủ tục giao đất giao rừng cho bà con. Nhà tôi hiện giờ chỉ có 1.500m2 đất nông nghiệp. Một năm cấy 2 vụ, thu hoạch được khoảng hơn 1 tấn thóc. Nhà có 9 nhân khẩu, gạo làm ra chỉ đủ ăn trong vòng 8 tháng còn lại phải mua ngoài. Do không có đất để sản xuất nên ngoài vụ cấy ra, chúng tôi chỉ còn biết đi làm thuê. Ai thuê gì thì làm nấy, nhưng chủ yếu vẫn là trồng, chăm sóc rừng thuê. Mỗi ngày thu nhập cũng được khoảng 60 nghìn đồng. Trong khi đó mọi thứ sinh hoạt đắt đỏ gia đình đều phải trông chờ vào nguồn thu ít ỏi này. Thêm nữa tôi còn phải nuôi 2 đứa em và con tôi ăn học. Chuyện thiếu gạo ăn thường xuyên xảy ra trong gia đình tôi. Đau xót hơn, trận lũ vừa qua đã cuốn trôi ngôi nhà của chúng tôi. Bây giờ hoàn cảnh gia đình tôi khốn khó vô cùng. Tôi mong sao, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thiết thực hơn đối với hộ nghèo chúng tôi như giao đất, giao rừng, đầu tư các công trình thuỷ lợi, hỗ trợ vay các nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất.

“Cần mở thêm các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, giới thiệu những mô hình làm kinh tế giỏi để bà con học tập”
(Chị LA THỊ AN, bản Nà Áng, xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu)

Gia đình tôi có 2 vợ chồng và 3 đứa con đang theo học phổ thông. Hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn. Cả gia đình chỉ trông chờ vào 2.000m2 đất nông nghiệp để trồng cây lương thực và hơn 1 ha rừng. (Hiện đang trồng cây hồi nhưng chưa cho thu hoạch). Ngoài ra, gia đình chúng tôi cũng chăn thêm được vài con lợn, con gà nhưng thu nhập một năm chẳng được bao nhiêu. Cứ với mức sống như hiện nay, chúng tôi cũng chẳng có điều kiện cho các cháu ăn học lên cao được nữa. Theo tôi, muốn thoát được nghèo thì trước hết phải xoá được đói. Muốn vậy, thì phải có ruộng, có rừng để phát triển sản xuất. Chính vì vậy, Nhà nước cần quan tâm đến việc giao đất giao rừng cho người dân. Cùng với đó mở thêm các lớp tập huấn, chuyển giao kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi; giới thiệu các mô hình làm kinh tế giỏi cho người dân học tập. Ngoài ra cần có chính sách hỗ trợ vật tư nông nghiệp như phân bón, giống cây trồng, vật nuôi, xây dựng chuồng trại... Thêm nữa, nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến các chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, đường, trường, trạm cho các xã vùng xa, vùng sâu có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Cùng chuyên mục