Đến vùng cao Ba Chẽ trong những ngày đầu thu này, chúng tôi được chứng kiến không khí thi đua sản xuất, quyết tâm xoá đói giảm nghèo của đồng bào các dân tộc với việc trong điều kiện hết sức khó khăn rét đậm, rét hại kéo dài, song bà con vừa giành một vụ chiêm bội thu, năng suất lúa bình quân 42 tạ/ha, sản lượng lương thực đạt gần 2.000 tấn, vượt kế hoạch đề ra.
Đặc biệt toàn huyện còn trồng mới được hơn 2.500 ha rừng, trong đó có gần 1.000 ha là do nhân dân chủ động tự bỏ vốn trồng - một kỷ lục chưa từng có, trong khi đó, một số nơi bà con vẫn tiếp tục chuyển cây con đi trồng rừng vụ thu, chủ yếu là cây thông, khi mưa thu đã về. Khác hẳn xa xưa, vùng cao Ba Chẽ bây giờ phố xá nhộn nhịp, xe máy nối đuôi nhau trên đường, đi đến đâu cũng thấy bà con hỏi nhau trồng được bao nhiêu hécta rừng? Con năm nay đỗ trường đại học, cao đẳng nào? Định bao giờ xây nhà mới...? Thật là vui!
Theo ông Triệu Mần Thềnh - Nguyên Chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện Ba Chẽ thì có được điều đó chính là nhờ khi những cái cần nhất đối với Ba Chẽ: một là đường, hai là chữ đã có. Tìm hiểu chúng tôi được biết: Được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, năm 1975 lực lượng quân đội thuộc Trung đoàn 8 sư đoàn B95 đã về Ba Chẽ sát cánh cùng nhân dân các dân tộc phá đá mở con đường huyết mạch từ thị trấn Ba Chẽ qua các xã Thanh Sơn, Thanh Lâm, Đạp Thanh, Minh Cầm lên đến Lương Mông dài hơn 50km. Sau hơn 2 năm lao động vất vả chẳng kém gì mở đường ra mặt trận, con đường huyết mạch này tuy chỉ là đường đất nhưng đã thông xe cục bộ, đem đến cho đồng bào các dân tộc niềm vui và những thuận lợi mới để mở mang kinh tế, khai thác những tiềm năng lợi thế của địa phương. Anh Nguyễn Văn Tuyn - Chuyên viên Văn phòng UBND tỉnh, nguyên chiến sỹ Trung đoàn 8 cùng đoàn cựu chiến binh Trung đoàn 8 về thăm lại tuyến đường này tâm sự: Cho đến bây giờ, vẫn còn in đậm trong tôi những tháng ngày dầm mưa dãi nắng, choòng đá phồng tay nhưng sao mà vui, mà đầm ấm tình quân dân. Truyện ngắn ''Ngược rừng Ba Chẽ'' của nhà văn quân đội Cao Tiền Lê; bài ca trữ tình ''Anh về Ba Chẽ quê em'' của nhạc sỹ Đoàn Phụng cũng được ra đời từ tuyến đường này.
Cắt băng thông xe đường Ba Chẽ - Lương Mông giai đoạn 2 (tháng 6-2008).
Với những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đổi mới liên tục nhiều năm qua, sự nghiệp phát triển giao thông ở huyện miền núi vùng cao này được quan tâm đầu tư từ nhiều nguồn vốn của Trung ương và của tỉnh mà đến nay đã tương đối hoàn thiện. Tuyến đường huyết mạch chạy dọc theo chiều dài của huyện có tên gọi là đường 330, nối điểm cuối cùng của huyện là xã Lương Mông với đường số 18 dài 65km đã được nhựa và bê tông hoá hoàn toàn; các tuyến đường nhánh đến trung tâm các xã và vươn xa tới các địa phương khác có tổng chiều dài chừng 45km cũng đã và đang được bê tông hoá. Đường đến đâu văn minh tới đó, bây giờ ngược rừng Ba Chẽ ngồi xe 4 chỗ thoả sức ngắm những cánh rừng quế, rừng keo, rừng thông bạt ngàn xanh tốt, những cánh đồng lúa ruộng bậc thang đang thì con gái mượt mà và nhất là dọc theo tuyến đường nhiều thị tứ đang hình thành như ở Khe Nháng, Pắc Xa, Đồng Giảng thuộc các xã Thanh Lâm, Đạp Thanh, Lương Mông cùng những xóm nhỏ với những ngôi nhà mới khang trang của các hộ từ các khe bản heo hút mới dời ra mặt đường chụm lại với nhau.
Ngược rừng Ba Chẽ bây giờ chúng tôi không còn thấy người đi bộ, mà phần đông bằng ô tô, xe máy. Có đường rồi, các gia đình đều cố gắng mua xe máy để đi lại, toàn huyện có tới 70% số gia đình có xe máy, nhiều gia đình có 2-3 xe máy, một số gia đình còn mua xe ô tô khách 12 chỗ, 24 chỗ, 29 chỗ, mua xe tải từ 2 đến 8 tấn chuyên chở hành khách và làm dịch vụ vận tải hàng hoá, cây, con, giống, phân bón phục vụ sản xuất, nhất là mùa trồng rừng và khai thác rừng trồng.
Đến với Thị tứ Đồng Giảng, Lương Mông, ngồi trong ngôi nhà 2 tầng bề thế mới xây của ông Vi Bằng - một đảng viên lão thành, trong tiếng mưa thu tí tách rơi, nhâm nhi chén rượu nếp với lạc rang giòn thơm mà ông mời, chúng tôi càng thấy hết cái cần thiết đến nhường nào của con đường và cái chữ với người vùng cao nơi này. Ông Bằng giãi bày: Xưa không có chữ dốt nát, chẳng biết làm ăn, đất rừng là thế mà vẫn đói nghèo. Những năm gần đây dân trí được nâng lên, đồng bào vừa sinh đẻ có kế hoạch, vừa tiếp thu được những kiến thức mới về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cây trồng, về sử dụng phân bón, phòng trừ sâu bệnh bảo vệ sản xuất... nhất là kết hợp nông - lâm nghiệp trồng rừng thâm canh, lấy ngắn nuôi dài... mà như Lương Mông đây số nhà giàu lên trông thấy, số hộ nghèo giờ chỉ còn 10%. Ông thừa nhận việc học hành có kiến thức văn hoá lớp trẻ bây giờ tính toán làm ăn giỏi giang lắm, rồi chỉ lên trần nhà bê tông sơn trắng bóng, ông bảo: Làm được cái nhà này là vợ chồng thằng con trai cả vừa qua đã áp dụng kỹ thuật trồng ngô lai có lương thực nuôi được mấy chục con lợn, rồi thu hái vỏ quế, nhựa thông cộng lại, khi đã đủ ăn rồi thì đồng tiền góp lại nhanh lắm.
Qua các đồng chí lãnh đạo huyện được biết, sau khi hoà bình lập lại (năm 1954) phong trào xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hoá đã có vai trò lớn đem ánh sáng văn hoá của Đảng tới bản làng, hàng chục thầy cô giáo từ miền xuôi đã về đây xây dựng mái trường, nhưng thực sự rầm rộ và lớn mạnh là từ sau 1975 với việc hàng trăm thầy cô giáo cả cấp 1, cấp 2 và cấp 3 đã được điều động từ các tỉnh miền xuôi, từ các huyện miền Tây của tỉnh về gieo chữ. Lớp học sinh thời kỳ ấy bây giờ đã trở thành lãnh đạo chủ chốt huyện, lãnh đạo và cán sự, chuyên viên các cơ quan, ban ngành, đoàn thể huyện và xã. Đội ngũ trí thức lao động ở các ngành và các lĩnh vực toàn huyện hiện giờ đã có ngót 1.000 người; ngành Giáo dục huyện có gần 5.000 học sinh, trong đó có hơn 800 học sinh trung học phổ thông và trung học bổ túc văn hoá. Các xã đều có trường mầm non, trường tiểu học và trung học cơ sở; 7/8 xã, thị trấn đã có trường học cao tầng, đội ngũ giáo viên các cấp học, ngành học có 550 người, cơ bản đã được chuẩn hoá, một số đạt trên chuẩn. Những năm gần đây, nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hoá, các gia đình đều tạo mọi điều kiện cho con đi học, đã góp phần nâng cao mặt bằng dân trí lên rất nhanh. Huyện đã hoàn thành phổ cập tiểu học chống mù chữ vào năm 2000 và hoàn thành phổ cập trung học cơ sở năm 2006. Cùng với các chỉ tiêu cử tuyển vào Đại học do Nhà nước ưu tiên phân bổ, những năm qua, bình quân hàng năm đã có 20 cháu đỗ thẳng vào các trường cao đẳng, đại học ở Trung ương, hàng trăm cháu đỗ vào các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc đi học các trường dạy nghề của tỉnh và các tỉnh bạn. Vùng cao Ba Chẽ đã qua đi cái thời cán bộ cứ phải ăn đong thường xuyên như nhiều năm trước đây. Với mặt bằng dân trí và nguồn nhân lực chất lượng ngày một cao và ổn định, nguồn cán bộ được đào tạo ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và tương đối đồng đều mà cơ bản là con em đồng bào các dân tộc; với một cơ sở hạ tầng, nhất là đường giao thông đang hoàn thiện dần, vùng cao Ba Chẽ nhất định sẽ đổi thay lớn lao trong những năm tới, hoà nhập cùng vận hội chung của đất nước - anh Vi Xuân Trọng, Chủ tịch UBND huyện Ba Chẽ khẳng định với chúng tôi khi chia tay như vậy.