Bài 1: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng

Tuy mới đi được một nửa chặng đường nhưng theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn thì phần lớn các nhiệm vụ, chỉ tiêu chủ yếu do Đại hội đề ra có khả năng hoàn thành, một số chỉ tiêu đến nay đã hoàn thành vượt mức như giá trị tăng thêm ngành dịch vụ, thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm hàng năm...

Bài 1: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng ảnh 1

 Lắp đặt hệ thống lò Nhà máy Xi măng
Thăng Long.    Ảnh: Thái Cảnh

Trong 2 năm đầu thực hiện, kinh tế tỉnh ta luôn tăng trưởng ở mức khá cao (gấp 1,5 lần so với bình quân chung của cả nước), thuộc nhóm cao so với các địa phương và Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tỷ trọng của các ngành kinh tế trong GDP tiếp tục được chuyển dịch theo hướng tích cực và hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm dần, công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh giữ vai trò chủ đạo. Cơ cấu GDP nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp xây dựng - dịch vụ năm 2006 là 7,7%-52,2%-40,1%; năm 2007 là 7,2%-52,7%-40,1% (chỉ tiêu Đại hội XII đề ra đến năm 2010 tương ứng là 4%-54%-42%). Điểm nổi bật trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế hơn 2 năm qua đó là, sản xuất công nghiệp đã được chuyển dịch theo hướng gắn sản xuất với thị trường, tăng dần tỷ trọng cơ khí và vật liệu xây dựng trong giá trị sản xuất toàn ngành, giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác. Sản xuất công nghiệp đang thu hút được sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong cả nước, tạo sự đa dạng cả về quy mô sản xuất, trình độ công nghệ, chủng loại và chất lượng sản phẩm. Duy trì tốc độ phát triển nhanh, ổn định và đồng đều ở các khu vực, trong 2 năm rưỡi tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 45.173 tỷ đồng, tăng bình quân 18,2%/năm (chỉ tiêu Đại hội đề ra cho 5 năm là 19-20%/năm), với tốc độ phát triển như hiện nay thì chỉ tiêu này dự kiến sẽ đạt kế hoạch đề ra. Các ngành công nghiệp mũi nhọn được quan tâm đầu tư, áp dụng công nghệ hiện đại như đóng mới, sửa chữa tàu thuỷ, sản xuất điện chạy than, xi măng, cơ khí chế tạo... bước đầu đem lại hiệu quả rõ rệt. Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng đã phát huy lợi thế về tài nguyên và chi phí vận tải để nâng cao giá trị gia tăng, mở rộng thị trường tạo sản phẩm xuất khẩu. Với sự ra đời của hàng loạt dự án trọng điểm như: Nhiệt điện Uông Bí mở rộng giai đoạn 1: 300 MW, điện Quảng Ninh 1.200 MW, điện Cẩm Phả 600 MW; nhà máy xi măng Cẩm Phả, Thăng Long, Hạ Long, Lam Thạch có tổng công suất trên 7 triệu tấn/năm; Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ công suất 20.000 tấn sản phẩm/năm; Nhà máy luyện thép Đông á công suất 500.000 tấn phôi/năm; khu công nghiệp đóng tàu Cái Lân, Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà; cụm công nghiệp đóng tàu Yên Hưng và một số dự án điện Uông Bí giai đoạn 2, Mạo Khê, Mông Dương, Thăng Long đang được xúc tiến thực hiện. Với tốc độ phát triển như hiện nay chắc chắn trong tương lai không xa Quảng Ninh sẽ trở thành trung tâm sản xuất nhiệt điện, xi măng, đóng tàu lớn nhất cả nước và mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp nhanh chóng hoàn thành.

Bài 1: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng ảnh 2

 Mô hình nuôi tôm công nghiệp tại xã Tân An (Yên Hưng) của Xí nghiệp tôm Tân An cho năng suất trên 10 tấn/ha.

Trên lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tuy phát triển còn chậm, chưa đạt mục tiêu đề ra nhưng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục được thực hiện theo hướng tập trung vào việc nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị canh tác và hướng tới sản xuất hàng hoá. Kinh tế ở khu vực này phát triển đa dạng hoá ngành nghề, tăng tỷ trọng công nghiệp dịch vụ, giảm sản xuất thuần nông. Đối với sản xuất lương thực hướng chuyển dịch chính là tăng diện tích gieo trồng bằng giống thuần, giống lai năng suất cao và ổn định; bố trí mùa vụ phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng nhằm hạn chế tác động của thời tiết và giải phóng đất sớm để sản xuất. Đến nay hầu hết các địa phương đã loại bỏ giống lúa cũ, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hoá, gắn với thị trường, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Ngành chăn nuôi trong 2 năm qua do ảnh hưởng của dịch bệnh nên tốc độ phát triển tạm bị chững lại, tuy nhiên cũng đã xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi mới theo quy mô công nghiệp, tạo lượng sản phẩm lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Sản xuất lâm nghiệp được phát huy tối đa lợi thế về điều kiện đất đai, khí hậu đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay. Diện tích trồng rừng liên tục tăng, giá trị xuất khẩu ngành lâm nghiệp năm 2007 đạt trên 4,7 triệu USD, tăng 4 lần so với năm 2005. Hạ tầng nông thôn được đầu tư phát triển, đến nay 100% số xã có điện, có đường ô tô đến trung tâm xã; 72% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch. Các vùng chuyên canh, sản xuất nông nghiệp hàng hoá, vùng nguyên liệu giấy, nuôi trồng thuỷ sản được hình thành với trên 1.300 trang trại các loại. Cơ cấu lao động nông nghiệp có sự chuyển dịch và phân công lại lao động nông - lâm - ngư nghiệp hiện còn 50% (giảm 3% so với trước khi thực hiện Nghị quyết), thời gian sử dụng lao động đạt 85% (tăng 5%). Nhờ được đầu tư diện mạo nông thôn Quảng Ninh có bước thay đổi đáng kể, góp phần đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Phát huy lợi thế của tỉnh công nghiệp - du lịch - thương mại, thực hiện nghị quyết chuyên đề về đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ của Tỉnh uỷ, cơ cấu các ngành dịch vụ có bước chuyển dịch tích cực theo hướng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu ngày càng đa dạng về sản xuất kinh doanh, đời sống dân cư. Một số ngành dịch vụ truyền thống như du lịch, thương mại đã phát triển đa dạng, tạo ra được nhiều sản phẩm mới. Đặc biệt ngành dịch vụ vận tải biển đã có bước tiến nhanh cả về quy mô và chất lượng, nhất là sau khi cảng nước sâu Cái Lân hoàn thành và đưa vào sử dụng. Hơn 2 năm qua giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ bình quân đạt 20%/năm, vượt 4-5% so với chỉ tiêu Đại hội. Điều đáng lưu ý là kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trên địa bàn đã vượt chỉ tiêu Đại hội đề ra ở mức cao, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 2 năm (2006-2007) đạt 2.599 triệu USD, tăng 72,6%/năm (chỉ tiêu Đại hội là 1.100 triệu USD vào năm 2010 và tốc độ tăng bình quân 15%/năm). Ngành Du lịch nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá, nâng cao chất lượng phục vụ nên dự báo có thể đạt chỉ tiêu Đại hội đề ra sớm hơn 1 năm.

Nhìn tổng quan thì sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết cơ cấu kinh tế của tỉnh đã và đang có sự chuyển dịch đúng hướng và tích cực, bước đầu phát huy hiệu quả.

(Còn nữa)

Đồng chí Trần Đăng Niên, Giám đốc Sở Công thương:
Phát triển ngành công nghiệp phụ trợ là đòi hỏi cần thiết trong giai đoạn tới

Với tốc độ phát triển của ngành Công nghiệp trong 2 năm qua và trong thời gian tới chắc chắn sẽ đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra. Tuy nhiên, sự phát triển này chưa thực sự bền vững vì hiện nay các lĩnh vực công nghiệp đóng tàu, may mặc, giầy da... phụ thuộc hoàn toàn vào việc cung cấp vật tư phụ tùng từ nơi khác. Theo dự báo tốc độ phát triển của ngành Công nghiệp ở tỉnh ta trong thời gian tới sẽ rất mạnh, nhất là sự ra đời của hàng loạt các nhà máy nhiệt điện, xi măng, cụm, khu công nghiệp. Vì vậy đòi hỏi phải có công nghiệp phụ trợ đi kèm để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành Công nghiệp nói chung. Việc phát triển công nghiệp phụ trợ cũng chính là động lực để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, là vệ tinh cho các khu công nghiệp, cụm công nghiệp lớn trong trong lai. Và điều quan trọng hơn cả là phát triển ngành công nghiệp phụ trợ sẽ tạo bước chuẩn bị tốt để tỉnh ta cùng với Hà Nội, Hải Phòng trở thành trung tâm cơ khí lớn của cả nước.

Đồng chí Nguyễn Minh Bạch, Giám đốc Sở Giao thông Vận tải: Giao thông phấn đấu đi trước tạo nền

Hạ tầng giao thông của tỉnh hiện đang bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế  - xã hội, đặc biệt là giao thông đường bộ và đường biển. Vì vậy trong nửa nhiệm kỳ còn lại và kế hoạch những năm tiếp theo trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh, ngành tiếp tục tham mưu đề xuất để đẩy nhanh quá trình đầu tư các dự án giao thông trọng điểm như: Nâng cấp quốc lộ 18 đoạn Mông Dương - Móng Cái, xây dựng các cầu vượt trên quốc lộ 18A... ; tiếp tục trình Thủ tướng đầu tư một số cầu bến quan trọng của cảng Cái Lân và đầu tư đồng bộ cảng khách quốc tế Hòn Gai; nghiên cứu phương án cải tạo, nâng cấp chuyển cảng Cẩm Phả thành cảng tổng hợp. Tham mưu công tác quy hoạch mạng lưới giao thông các khu vực kinh tế trọng điểm như Khu Kinh tế Vân Đồn, Khu công nghiệp, dịch vụ cảng biển Hải Hà, Khu công nghiệp đa năng Đầm Nhà Mạc. Đối với các tuyến tỉnh lộ sẽ ưu tiên đầu tư: Đường 341 đoạn từ Bắc Phong Sinh đi Đồng Văn; Đường 326, 329 thị trấn Trới đi Mông Dương, Mông Dương đi Ba Chẽ, thị trấn Ba Chẽ đi Lương Mông. Về đường sông cải tạo nâng cấp tuyến đường sông Quảng Ninh - Hải Phòng - Ninh Bình, Quảng Ninh - Hải Dương - Hà Nội. Về đường sắt, đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến Yên Viên - Hạ Long - Cái Lân. Về hàng không, triển khai xây dựng sân bay tại xã Đoàn Kết, huyện Vân Đồn. Mục tiêu ngành Giao thông đặt ra trong thời gian tới, đó là phải đi trước tạo nền cho phát triển kinh tế - xã hội.

Đồng chí Lê Toán, Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch: Xây dựng tính chuyên nghiệp trong hoạt động du lịch

Nét nổi bật rất dễ nhận thấy của hoạt động du lịch trong 2 năm qua, đó là đã có nhiều tiến bộ về tổ chức kinh doanh, tuyên truyền, quảng bá, tiếp thị nhờ đó số khách du lịch đến Quảng Ninh ngày càng tăng. Địa bàn phát triển không chỉ tập trung ở khu vực Bãi Cháy mà đã mở rộng phạm vi ra 4 trung tâm du lịch của tỉnh: Hạ Long; Uông Bí - Đông Triều - Yên Hưng; Vân Đồn; Móng Cái. Nét nổi bật của ngành Du lịch 2 năm qua là lượng khách du lịch quốc tế đi bằng đường biển tăng mạnh nhờ mở thêm được 2 tuyến du lịch đường biển Hạ Long đi Khâm Châu và Bắc Hải (Trung Quốc). Cơ cấu khách quốc tế có sự chuyển biến tích cực, không chỉ có khách Trung Quốc mà lượng khách đến từ các nước Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước Châu Âu, ASEAN, Bắc Mỹ tăng đáng kể. Với tốc độ phát triển như hiện nay ngành Du lịch sẽ hoàn thành chỉ tiêu Đại hội sớm hơn 1 năm đó là đón 5 triệu lượt khách, trong đó có 2,2 triệu lượt khách quốc tế. Tuy nhiên, tồn tại lớn nhất hiện nay trong hoạt động du lịch là phát triển còn mang tính tự phát, manh mún, tính chuyên nghiệp chưa cao, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh còn diễn ra, thiếu nhiều sản phẩm dịch vụ có chất lượng. Vì vậy mục tiêu ngành Văn hoá - Thể thao - Du lịch đặt ra trong nửa cuối nhiệm kỳ còn lại đó là tập trung nâng cao chất lượng phục vụ, xây dựng tính chuyên nghiệp trong hoạt động du lịch - văn hoá và thể thao. Để làm được việc này ngành đang xây dựng đề án về lộ trình công nghiệp hoá các hoạt động văn hoá thể thao - du lịch, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản hoàn thành cùng với mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp, trong đó đầu tư đào tạo nguồn nhân lực mang tính chuyên nghiệp trong hoạt động là yếu tố hàng đầu.
                                                         Ngọc Lan
(Thực hiện)

Cùng chuyên mục