Bài 1: Hành trình qua những cánh đồng cạn

Trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM), thuỷ lợi xếp thứ 3 trong tổng số 19 tiêu chí. Điều này cho thấy công tác thuỷ lợi đóng vai trò rất quan trọng để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Hiện tại nhiều địa phương, hệ thống thuỷ lợi chưa được đầu tư nhiều, có nơi đã đầu tư nhưng gần như không phát huy tác dụng. Tuy nhiên, trong báo cáo về xây dựng NTM ở các địa phương, số liệu về hồ đập, kênh mương... thường được đánh giá là “cơ bản đáp ứng được nhu cầu dân sinh”. Nhưng, đằng sau các con số là cả một câu chuyện về cuộc sống, kế sinh nhai ở các làng quê hiện nay.

Đường ống nhựa dẫn nước tưới của người dân thôn Phủ Liễn (xã Đồng Sơn, Hoành Bồ) chỉ sau một đợt gió mạnh đã bị hư hỏng.
Đường ống nhựa dẫn nước tưới của người dân thôn Phủ Liễn (xã Đồng Sơn, Hoành Bồ) chỉ sau một đợt gió mạnh đã bị hư hỏng.

Nỗi lo mùa khô tới

Dấu hiệu một mùa khô mới khắc nghiệt đến với Đồng Sơn, một xã vùng cao phía Bắc của huyện Hoành Bồ. Con đường đất mới mở rộng từ thôn Tân Ốc (trung tâm xã) tới thôn Phủ Liễn cuốn bụi mờ mịt, phủ vàng cả lớp lá cây rừng hai bên đường. Thi thoảng, sự tĩnh lặng của rừng lại bị phá vỡ bởi tiếng xe máy đi qua, tiếng gầm gừ leo dốc của những chiếc xe tải chở cột điện... Đồng Sơn sắp có điện lưới quốc gia đến từng khe bản, sắp có đường liên thôn! Niềm vui ấy không làm cho người ta quên đi nỗi lo một mùa khô nữa đang tới. Từ bao đời nay, người dân Đồng Sơn có thể quen với đường mòn, với đèn dầu lập loè từ khi chập tối, nhưng họ chẳng thể nào quen được với cái mất mùa, cái thiếu ăn do thiếu nước sản xuất nông nghiệp.

“Đồng Sơn mấy năm trở lại đây đã có nhiều thay đổi” - đó là lời khẳng định của Chủ tịch UBND xã, Linh Du Minh. Nhưng khi dẫn chúng tôi ra thăm những đồng ruộng khô cằn, vẻ tự hào trên khuôn mặt ông Minh tan biến. Vẫn là hơn 600ha đất sản xuất nông nghiệp, trong đó có 97ha đất trồng lúa; 12 công trình thuỷ lợi đầu mối là các đập nằm rải rác ở 4 thôn; hệ thống kênh mương dài 12,98km, đến nay vẫn chỉ kiên cố hoá được 1,28km, còn lại là mương đất và kênh dẫn nước bằng... ống nhựa do người dân tự đầu tư. Do hệ thống thuỷ lợi chưa đảm bảo, nên diện tích đất trồng lúa cấy 2 vụ chỉ chiếm 60%, cũng không thể trồng thêm hoa màu khác. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo ở Đồng Sơn đến nay vẫn chiếm tới 67% dân số, số hộ cận nghèo cũng lên tới 100/tổng số 526 hộ.

Thôn Phủ Liễn có 100% là đồng bào dân tộc Dao, tỷ lệ hộ nghèo cao nhất xã (104/179 hộ). Người dân ở đây sinh sống chủ yếu dọc hai bên ven suối, các khe thung lũng và ven các sườn đồi, với nghề chính là nông, lâm nghiệp và khai thác các loại lâm sản khác. Với diện tích đất canh tác khoảng 21ha, Phủ Liễn có 4 con đập phục vụ tưới, trong đó nguồn nước dồi dào nhất là từ đập Khe Mười. Sẽ không có chuyện gì phải bàn, nếu như lượng nước từ các hồ đập trên dẫn được tới những cánh đồng trong thôn Phủ Liễn. Thế nhưng, chỉ với 2,5km mương chính dẫn từ các hồ đập, đến nay vẫn chưa có đoạn mương nào được kiên cố hoá. Hiện trạng trên khiến cho việc đưa nước về đồng ruộng bị rò rỉ, mất nhiều thời gian, và chỉ có số ít cánh đồng đầu nguồn mới đủ nước tưới. Dẫn chúng tôi ra tới đập Khe Mười, anh Bàn Văn Ban (Chủ nhiệm HTX Tân Tiến, thôn Phủ Liễn) cho biết: “Đập được xây dựng từ năm 1987, do dân bỏ công sức và một phần hỗ trợ của huyện. Do việc xây dựng thô sơ, kỹ thuật kém, nên từ lâu nay đập đã bị rò rỉ, trữ lượng nước không đủ cho bà con gieo trồng 2 vụ. Đã thế, nước lại tiếp tục bị thất thoát trong quá trình chảy qua mương đất, nên ngay cả trong mùa mưa, nước đập Khe Mười sẵn, nhưng nhiều cánh đồng vẫn khô cạn”.

Không chỉ riêng Phủ Liễn mà 3 thôn còn lại của Đồng Sơn là các thôn Tân Ốc 1, Tân Ốc 2, Khe Càn đều trong tình trạng suối, hồ nhiều, nhưng ruộng vẫn thiếu nước. Qua đợt khảo sát các công trình thuỷ lợi hồi cuối năm 2011 của UBND xã Đồng Sơn, thì hầu hết các đập nhỏ đã bị hư hỏng, 9 công trình thuỷ lợi khác được cấp bách đề nghị làm mới và tu sửa.

Lương Tiến Dũng (thôn Khe Xa, xã Đạp Thanh, Ba Chẽ) dắt trâu ra “cánh đồng lúa chết”.
Lương Tiến Dũng (thôn Khe Xa, xã Đạp Thanh, Ba Chẽ) dắt trâu ra “cánh đồng lúa chết”.

Đành để trâu... ăn lúa

Từ Phủ Liễn, chiếc xe Win lại lồng cồng vượt dốc, xuyên rừng “cõng” tôi đến xã Lương Mông (Ba Chẽ). Dù trong báo cáo thực trạng 19 tiêu chí NTM của Lương Mông, tiêu chí thuỷ lợi được đánh giá là “đạt”, nhưng theo ông Triệu Văn Tài, Phó Chủ tịch UBND xã, thì: “Toàn xã có 12 đập, nhưng đến 10 đập thời vụ đã bị hư hỏng, cần phải tu sửa, 2 đập chưa được kiên cố; kênh mương cấp II mới chỉ kiên cố hoá được 11%; nhiều thôn, bản chưa hề có một mét mương cứng; vụ chiêm xuân hầu hết không đủ nước cho sản xuất nông nghiệp”.

Khe Nà và Khe Giấy là 2 thôn khó khăn nhất của xã Lương Mông, nguyên nhân chủ yếu cũng vì thiếu nước sản xuất. Diện tích đất trồng lúa của 2 thôn cộng lại mới chỉ được hơn 10ha, nhưng cũng chỉ gieo cấy được 1 vụ, nhiều hộ phải mua thêm gạo vì không đủ thóc ăn. Hộ anh Đặng Thắng Vượng (một hộ nghèo ở bản Khe Khưa, thuộc thôn Khe Nà) là một ví dụ. Do cấy giống lúa muộn, nên cho đến thời điểm này, hơn 3 sào ruộng nhà anh Vượng vẫn chưa cho thu hoạch. Nhưng ngặt một nỗi, thửa ruộng nhà anh thuộc chân ruộng cao, không có mương trực tiếp dẫn nước vào. Thành thử, từ khi lúa vào giai đoạn đóng đòng (cách đây hơn 1 tháng), anh phải hì hụi múc từng xô nước từ mương bên kia đường nội đồng vào ruộng. “Nhìn những cánh đồng có đường mương ẵm nước dưới xuôi mà thèm lắm! Giá có mương dẫn nước như thế về Khe Khưa, gia đình tôi cũng không đến nỗi khó khăn, thiếu gạo như bây giờ” - anh Vượng than thở.

Tại các xã Đạp Thanh, Đồn Đạc, địa hình không bằng phẳng, bị chia cắt bởi các dãy núi, hệ thống kênh mương tưới, tiêu còn yếu kém hơn. Ngay giữa mùa gặt hái mà Lương Tiến Dũng (người dân tộc Nùng ở bản Khe Xa, xã Đạp Thanh) chỉ biết dắt trâu ra đồng cho ăn... lúa. Nhà có 3 sào ruộng nhưng đến hết vụ cũng chỉ thu hoạch được 40kg thóc, coi như mất trắng! Gặp Dũng giữa cánh đồng Mộc Thào Phố (thôn Khe Xa), hỏi sao lại cho trâu ăn lúa, người thanh niên dân tộc Nùng cười mà như mếu, nói: “Anh nhìn xem, lúa thế này thì chỉ để trâu ăn, chứ còn gặt hái gì nữa!”. Nhìn những hạt thóc lép lưa thưa trên thân cây lúa khô thẳng đứng và nét mặt của Dũng, lòng tôi chợt trào dâng một niềm thương cảm. Dũng kể: Vào những ngày đầu mùa mưa, bất kể đêm hay ngày, người dân Khe Xa cứ thấy mưa là lại ào ra ruộng cày. Chỉ có cày vào lúc mưa như vậy thì ruộng mới đẫm nước, chứ không thể trông chờ vào nước suối dẫn về bằng các đường ống. Ấy vậy mà đến khi lúa bắt đầu làm đòng, lượng mưa lại thưa dần, ruộng bắt đầu cạn kiệt, những cánh đồng xa như của nhà Dũng trở thành những cánh đồng lúa chết!

Xuôi xuống Tiên Yên, một huyện có diện tích đất gieo trồng khá lớn ở khu vực miền Đông (5.440ha), nhiều xã có đường kênh mương được đánh giá là “đạt” so với bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM. Tuy nhiên, trong các đường mương được kiên cố hoá này, có nước hay không lại là một vấn đề lớn. Tại xã Tiên Lãng, tổng số kênh mương được kiên cố hoá là 11,1/14,5km, đạt 76,55%, thế nhưng, hệ thống tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp hoàn toàn là nguồn tự chảy từ các hồ đập. Toàn xã có 4 hồ đập chứa nước, tuy nhiên số đập nước này phụ thuộc chủ yếu vào nguồn sinh thuỷ tự nhiên, thường xuyên thiếu nước vào mùa khô, hiện đã xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất. Ông Tạ Quang Sáng, Phó Phòng NN&PTNT huyện Tiên Yên cho biết: “Công trình thuỷ lợi quan trọng nhất ở Tiên Lãng là hồ chứa nước Cống To. Nếu được đầu tư nâng cấp, hồ sẽ nâng dung tích chứa từ 5,65 vạn m3 hiện nay lên đến 8,53 vạn m3, đủ nước tưới cho 40ha đất trồng lúa và 10ha đất hoa màu, phục vụ một phần nhu cầu nước sinh hoạt cho người dân Tiên Lãng. Như hiện nay, nước từ các hồ đập không đủ dẫn về thì hệ thống kênh mương ở Tiên Lãng được đầu tư kiên cố hoá cũng như vô nghĩa”.

Bức thiết về thuỷ lợi hơn cả vẫn là xã Hải Lạng. Toàn bộ diện tích 600ha đất sản xuất nông nghiệp của xã chỉ trông chờ vào nguồn nước “nhỏ giọt” từ hồ Khe Cát và... ông trời. Bên cạnh đó, hệ thống kênh mương dài 42,2km thì có đến trên 80% là mương đất, đã hư hỏng nặng, không đủ năng lực tưới tiêu... Tất cả đều chờ đợi trong mòn mỏi dự án trên giấy từ năm 2009 mang tên: Hồ thuỷ lợi Khe Cát.

Vẫn biết rằng, tiêu chí số 3 về thuỷ lợi trong xây dựng NTM được đánh giá là một trong những tiêu chí khó, bởi nhu cầu kinh phí đầu tư quá lớn, trong khi đó nguồn lực của tỉnh, huyện, xã còn hạn hẹp. Nhưng, câu chuyện trên những thửa ruộng mà chúng tôi đi qua, cũng là những lời đề nghị khẩn thiết tới các nhà hoạch định chính sách. Xây dựng NTM bền vững, đích đến cuối cùng là phải phục vụ được nền sản xuất phát triển, nâng cao cuộc sống cho bà con nông dân.

Nguyễn Quý
Bài 2: Tìm lời giải cho bài toán kinh phí

Cùng chuyên mục