Sau khi làm sai quy trình đấu thầu để thay đổi các thiết bị máy móc trong dây chuyền sản xuất ván sợi MDF, Giám đốc Lâm trường Hoành Bồ tiếp tục gây ra nhiều sai phạm khác làm mất dân chủ cơ quan và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho Nhà nước.
>>Bài 1: Tự ý thay đổi dây chuyền, thiết bị
Việc thay đổi các thiết bị máy móc trong phụ lục hợp đồng số 01 theo hướng giảm tính năng, công suất so với danh mục được phê duyệt dẫn đến dây chuyền sản xuất ván sợi MDF đến nay đã quá thời hạn gần 4 năm vẫn chưa được bàn giao. Cụ thể là do máy móc không đồng bộ nên nhà thầu vừa lắp đặt, vừa phải gia công các thiết bị phi tiêu chuẩn và chạy thử dây chuyền… Theo những công nhân và cán bộ kỹ thuật ở Nhà máy Ván sợi MDF thì dây chuyền thiết bị máy móc cứ chạy được một vài tiếng lại phải ngừng hoạt động để sửa chữa; thời gian sửa chữa nhiều hơn thời gian hoạt động. Do không đảm bảo được ngày công cho người lao động, nên thu nhập của công nhân rất thấp. Cộng với sự chuyên quyền của Giám đốc Lâm trường dẫn đến công nhân bỏ việc nhiều, đến tháng 7-2006 đã xảy ra đình công ở Nhà máy. Sự chuyên quyền của Giám đốc Nguyễn Duy Đãng được thể hiện ở rất nhiều việc. Cụ thể là về công tác cán bộ, ông Đãng đã điều động, bổ nhiệm cán bộ vô nguyên tắc, không đúng thẩm quyền theo phân cấp quản lý của Sở NN&PTNT và Đảng ủy Lâm trường. Giám đốc Lâm trường không hề thông qua Ban Thường vụ Đảng ủy khi bổ nhiệm cán bộ, làm trái với quy chế dân chủ, nghị quyết và Quy chế làm việc của Đảng ủy Lâm trường. Điển hình nhất là khi ông Đãng bổ nhiệm ông Trịnh Văn Hán, một công nhân lái xe về làm Giám đốc Nhà máy Ván sợi MDF, trong khi nhiều người trước đó đã được cử đi đào tạo để quản lý, vận hành dây chuyền ván sợi ở Trung Quốc về thì không được bố trí việc làm phù hợp. Hay việc tiếp nhận người quen là bà Hoàng Thị Huyền về làm việc tại Phòng Hành chính Lâm trường; sau đó Huyền đã trộm cắp và hủy hoại tài sản của cơ quan, bị tòa án xử tù.
Sau khi dây chuyền sản xuất ván sợi MDF đi vào hoạt động thử nghiệm (vì chưa được bàn giao), ông Đãng đã tạo điều kiện một cách quá ưu ái cho một số tập thể, cá nhân nắm giữ các khâu khác phục vụ cho việc sản xuất của Nhà máy. Đó là việc ký hợp đồng kinh tế số 108HĐ-KT ngày 6-6-2006 với Công ty TNHH Tiến Bảo “Về việc liên kết sản xuất keo và tiêu thụ sản phẩm”. Hợp đồng này được ký kết không dựa trên căn cứ pháp lý là Bộ Luật Dân sự năm 2005 mà lại dựa vào Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 (đã hết hiệu lực pháp lý vào thời điểm đó). Hậu quả là nếu sau này xảy ra tranh chấp giữa Lâm trường và Công ty Tiến Bảo thì sẽ không có cơ sở để giải quyết. Điều đáng nói nữa là ông Đãng đã ký hợp đồng này với Công ty Tiến Bảo trước, sau đó mới báo cáo xin ý kiến Sở chủ quản và đưa ra bàn bạc trong ban lãnh đạo Lâm trường. Nội dung của hợp đồng và phụ lục hợp đồng thể hiện sự quá ưu ái với Công ty TNHH Tiến Bảo, từ việc cho công ty này sử dụng đường đi, nguồn điện, mặt bằng xây dựng nhà xưởng (Lâm trường chi tiền san gạt cho công ty, công ty không phải trả tiền điện, nước) đến việc điều chỉnh giảm chất lượng keo nhưng giá vẫn giữ nguyên. Trước đây, Lâm trường vẫn nhập keo của Doanh nghiệp Beet rê sin để sản xuất ván sợi ép và chất lượng sản phẩm đạt loại A là 86,35%. Nhưng từ khi sử dụng keo của Công ty Tiến Bảo, sản phẩm loại A chỉ đạt 63,5%, lượng keo tiêu hao cho mỗi m3 sản phẩm tăng cao vì hàm lượng chất rắn của keo do công ty này sản xuất quá thấp. Có lô keo nhập của Công ty Tiến Bảo không đảm bảo chất lượng, nhưng ông Đãng vẫn yêu cầu nhập. Trước tình trạng chất lượng keo của Công ty Tiến Bảo thấp, Lâm trường đã họp và ra nghị quyết phải đề nghị công ty này giảm giá keo. Nhưng ông Đãng cố tình ra thông báo số 176/TB-LT ngày 4-9-2006 giữ nguyên giá mua keo, vì cho rằng Công ty Tiến Bảo sẽ bao tiêu toàn bộ sản phẩm theo giá của Lâm trường. Thực tế, Công ty này không hề bao tiêu một m3 sản phẩm nào cho Lâm trường. Theo sổ sách kế toán, Lâm trường đã nhập toàn bộ số sản phẩm sản xuất từ keo của Công ty Tiến Bảo vào kho của Lâm trường. Số sản phẩm này lẽ ra phải giao cho Công ty Tiến Bảo tiêu thụ theo hợp đồng, nhưng sau đó, Trưởng Phòng Kế hoạch Lâm trường đã bán số hàng này và vẫn được Lâm trường cho thanh toán chi phí bán hàng là 2,5% giá trị các lô hàng (=7.274.395 đồng).
Do hàng loạt những sai phạm trên, nên hoạt động sản xuất kinh doanh ván sợi ép MDF ở Lâm trường Hoành Bồ đã bị thua lỗ nặng. Theo tính toán của Đoàn thanh tra, nếu loại trừ khấu hao tài sản cố định và lãi vay vốn xây dựng nhà máy, thì năm 2006 Lâm trường bị lỗ trên 1,187 tỷ đồng, còn nếu tính đủ khấu hao tài sản cố định sẽ bị lỗ trên 3,629 tỷ đồng.
Giám đốc Lâm trường còn vi phạm về trình tự thủ tục đầu tư xây dựng. Một số hạng mục công trình được ông Đãng chỉ đạo thi công sai vị trí quy hoạch được phê duyệt khi chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường được cấp có thẩm quyền phê duyệt, dẫn đến phải chi phí cho công tác quy hoạch lại mặt bằng số tiền 104,367 triệu đồng.
Trước những sai phạm của ông Đãng, một số cán bộ, đảng viên dũng cảm đã đứng ra đấu tranh, tố cáo. Ông Đãng đã có nhiều hành vi kéo bè, vây cánh để cô lập, đe dọa những người tố cáo ông.
Một nhà máy được đầu tư gần 33 tỷ đồng với biết bao kỳ vọng, đến nay đã qua hơn 4 năm chưa được bàn giao. Hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy Ván sợi MDF trong giai đoạn thử nghiệm đã bị thua lỗ nặng. Qua sản xuất thử nghiệm đã chứng minh dây chuyền sản xuất ván sợi MDF tự ý thay đổi không đồng bộ, hiệu quả. Sai phạm ở Lâm trường Hoành Bồ, sai phạm của cá nhân Giám đốc Lâm trường là quá rõ ràng. Nhưng không hiểu sao trước những sai phạm hàng loạt, kéo dài ở Lâm trường Hoành Bồ, mà Sở chủ quản lại không kịp thời có các biện pháp ngăn chặn, xử lý mặc dù đơn thư tố cáo, đề nghị được gửi đến Sở từ sớm? Đây là bài học về sự buông lỏng quản lý của ngành chủ quản và các cơ quan chức năng địa phương. Dư luận đang trông chờ những sai phạm ở Lâm trường Hoành Bồ phải được xử lý nghiêm minh.