Bài 2: Tìm lời giải cho bài toán kinh phí

Đến thời điểm này, vẫn còn nhiều nơi trong tỉnh chưa có công trình thuỷ lợi, việc sản xuất hoàn toàn lệ thuộc vào nước trời, nên năng suất rất bấp bênh, khiến đời sống người dân gặp phải không ít khó khăn. Bên cạnh đó, hàng loạt công trình thuỷ lợi bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng do mưa lũ hoành hành vẫn chưa được sửa chữa, nâng cấp cũng là một trở ngại lớn đối với nông dân. Nâng cấp, hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi nhỏ, kênh mương nội đồng, đảm bảo phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp là điều mà các địa phương đều mong muốn thực hiện. Song làm bằng cách nào và kinh phí lấy từ đâu vẫn là những bài toán khó.

“Lỗi hẹn” với kênh mương

Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT, tính đến hết năm 2011, trên địa bàn tỉnh có tổng số 4.933,6km kênh mương các loại, đã kiên cố hoá được 1.317,5km. Trong đó: Kênh loại 1 là 73,13km; kênh loại 2 là 330,5km; kênh loại 3 là 913,9km. Mặc dù hệ thống thuỷ lợi sau khi phân cấp cho xã quản lý đã có nhiều chuyển biến, đáp ứng cơ bản được yêu cầu tưới, tiêu, song so với tiêu chí về thuỷ lợi trong xây dựng NTM thì chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, nhất là tỷ lệ cứng hoá kênh mương.

Hơn chục năm nay, người dân xã Hải Lạng (Tiên Yên) mòn mỏi mong chờ Dự án hồ thuỷ lợi Khe Cát.
Hơn chục năm nay, người dân xã Hải Lạng (Tiên Yên) mòn mỏi mong chờ Dự án hồ thuỷ lợi Khe Cát.

Trong thực tế, khó khăn lớn nhất mà hầu hết các địa phương gặp phải khi tiến hành việc cứng hoá hệ thống thuỷ lợi nội đồng là thiếu kinh phí do số vốn đầu tư quá lớn. Ông Tạ Quang Sáng, Phó Phòng NN&PTNT huyện Tiên Yên cho biết: Kế hoạch sửa chữa, nâng cấp kênh mương năm 2012 có tổng cộng 14 công trình, nhưng đến nay mới chỉ thực hiện được 2 công trình tại thôn Pắc Phai, thôn Nà Buống (xã Điền Xá) và thôn Bình Sơn, thôn Quế Sơn (xã Đông Ngũ). 12 công trình còn lại hầu hết là chuyển tiếp từ kế hoạch năm 2011, đến nay phải tiếp tục chuyển sang kế hoạch năm 2013. Tổng số vốn dự kiến cho 14 công trình này là gần 17 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn từ chương trình xây dựng NTM là trên 15 tỷ, còn lại là vốn của huyện, xã. Kế hoạch, dự kiến là như vậy, nhưng do không bố trí được vốn, nên việc thực hiện sửa chữa, nâng cấp kênh mương liên tục bị lỗi hẹn.

[links(right)]Tại huyện Đông Triều, một trong hai vựa lúa của tỉnh, kế hoạch đầu tư kiên cố hoá kênh mương năm 2011 là 9.439m (tổng vốn đầu tư là 10,531 tỷ đồng), nhưng tính đến 31-12-2011, huyện mới chỉ thực hiện được 4.093m (bằng 43,36% kế hoạch năm). Sự chậm trễ này sẽ ảnh hưởng không nhỏ cho kế hoạch kiên cố hoá kênh mương của huyện năm 2012 và các năm tiếp theo.

Những đường “mương” tạm bợ như thế này (ảnh chụp tại thôn Phủ Liễn, xã Đồng Sơn, Hoành Bồ) không biết đến bao giờ mới được thay thế.
Những đường “mương” tạm bợ như thế này (ảnh chụp tại thôn Phủ Liễn, xã Đồng Sơn, Hoành Bồ) không biết đến bao giờ mới được thay thế.

Nhiều địa phương khác cho rằng, vốn từ ngân sách tỉnh hỗ trợ cho chương trình này vẫn còn ít, chưa đáp ứng yêu cầu của nghị quyết HĐND tỉnh. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính ở các địa phương thì eo hẹp, trong khi cuộc sống còn khó khăn, nên nhân dân đóng góp cũng chưa nhiều (thậm chí không có khả năng đóng góp), nhất là ở những vùng có đông bà con dân tộc thiểu số sinh sống. Ngoài ra, tại một số nơi, do lực lượng cán bộ kỹ thuật thuỷ lợi quá mỏng nên việc đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo thực hiện đạt hiệu quả thấp. Ở các huyện miền núi cao, vì địa hình khu vực tưới quá phức tạp, manh mún và phân tán, nên vấn đề triển khai đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi là chuyện không phải dễ dàng.

Sử dụng nguồn vốn linh hoạt, sáng tạo

Tại kỳ họp thứ 3, HĐND tỉnh khoá XII, Nghị quyết về đầu tư kiên cố hoá kênh mương loại III trên địa bàn tỉnh đã được thông qua. Đây là nghị quyết rất quan trọng, góp phần phát triển nông nghiệp, nông  thôn trên địa bàn. Theo đó, đối với các xã khó khăn (theo Quyết định 30/2007 của Thủ tướng Chính phủ), vốn kiên cố hoá kênh mương do ngân sách tỉnh đầu tư, bố trí trong vốn xây dựng cơ bản hàng năm; đối với các xã còn lại thực hiện theo cơ chế ngân sách tỉnh hỗ trợ 70%, địa phương và nhân dân vùng hưởng lợi đóng góp 30% bằng tiền hoặc ngày công lao động.

Ông Phạm Đình Hoà, Chi cục trưởng Chi cục Thuỷ lợi (Sở NN&PTNT) cho biết: Năm 2011, toàn tỉnh đã thực hiện nâng cấp, sửa chữa 56 công trình thuỷ lợi, tổng trị giá là 232,526 tỷ đồng, trong đó vốn T.Ư là 69,877 tỷ, vốn ngân sách tỉnh là 143,722 tỷ, vốn khác là 16,046 tỷ đồng. Nhìn chung các công trình trên sông, suối đều được các đơn vị thi công cố gắng hoàn thành kế hoạch đề ra, mặc dù kinh phí đầu tư cho việc xây dựng các công trình này rất hạn hẹp.

Trao đổi với phóng viên, ông Hoàng Đình Sáu, Phó trưởng Ban Xây dựng NTM tỉnh cho biết: Bắt đầu từ năm 2012, nguồn vốn NTM được phân bổ về cho địa phương, để địa phương chủ động thực hiện lựa chọn cái gì làm trước, cái gì làm sau. Tỉnh chỉ giao các tiêu chí cứng như: Nước sạch, trường mầm non và hỗ trợ sản xuất. Thuỷ lợi là tiêu chí “mềm”, nhưng tuỳ từng địa phương cụ thể, nếu xét thấy bức thiết thì có thể lựa chọn đầu tư trước. Theo ông Sáu, phát triển thuỷ lợi nhỏ và kiên cố hoá kênh mương là một chủ trương đúng, có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đồng thời góp phần hoàn thành các chỉ tiêu trong Chương trình xây dựng NTM. Tuy nhiên, đối với những vùng ruộng đồng bị chia cắt, không tập trung, số vốn đầu tư thuỷ lợi rất lớn. Trong bối cảnh khó khăn chung về kinh tế như hiện nay, nên chăng vận động bà con chuyển dịch cơ cấu cây trồng hoặc chia trồng cây theo mùa cho hiệu quả.

Đưa ra kiến nghị, giải pháp đầu tư cho thuỷ lợi, ông Tạ Quang Sáng, Phó phòng NN&PTNT huyện Tiên Yên cho rằng: “Cần san sẻ số tiền đầu tư cho cả Nhà nước và nhân dân. Đối với những hệ thống kênh mương trục chính, tỉnh cần có cơ chế hỗ trợ nguồn vốn giúp các địa phương hoàn thiện. Còn với hệ thống kênh mương nội đồng, thì ngoài số vốn hỗ trợ của huyện, các xã phải dành ngân sách xã để đầu tư. Đồng thời huy động sự đóng góp của nhân dân theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm””. Trên thực tế, hiện nhiều địa phương đã thành công trong việc huy động đóng góp của nhân dân để kiên cố hoá hệ thống đường giao thông hay xây dựng cơ sở vật chất nông thôn. Do vậy, nếu các xã biết huy động sức dân thì việc tạo nguồn vốn sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

Theo giải pháp của Sở NN&PTNT, để có kinh phí thực hiện các mục tiêu trên thì vốn xây mới, cải tạo cống, đập nhỏ do ngân sách huyện, xã hỗ trợ; xây mới, cải tạo các trạm bơm tưới, tiêu, sông dẫn vào các trạm bơm do HTX quản lý là từ vốn cấp bù thuỷ lợi phí theo Nghị định 115; vốn xây kênh tưới cấp I của trạm bơm từ nguồn kinh phí của tỉnh… Việc đào đắp kênh mương mặt ruộng, bờ vùng, bờ thửa của từng địa phương sẽ do vốn và ngày công của nông dân địa phương đó đóng góp. Sau khi các xã cơ bản hoàn thành được hệ thống thuỷ lợi đồng bộ, thì việc chủ động trong tưới, tiêu, cơ giới hoá, hiện đại hoá và phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá… sẽ góp phần không nhỏ để nâng cao cuộc sống cho bà con nông dân.

Các nội dung, kế hoạch thực hiện tiêu chí số 3 có được thực thi hay không, điều đó phụ thuộc rất nhiều vào nguồn lực của tỉnh và sự đóng góp của toàn xã hội. Tại các cuộc họp bàn về xây dựng NTM, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Phạm Minh Chính đã nhiều lần nhấn mạnh: Trong điều kiện khó khăn chung, nguồn vốn xây dựng NTM cần phải linh hoạt, sáng tạo từ khâu huy động, phân bổ nguồn lực, đến lựa chọn cho phù hợp những tiêu chí ưu tiên. Phải khẳng định rằng, xây dựng NTM là chủ trương đúng đắn, bộ tiêu chí đặt ra là cái đích chung cần hướng đến bộ mặt NTM tiến bộ, với cuộc sống tốt đẹp dành cho người dân nông thôn. Nhưng nếu như không có các giải pháp cụ thể, định hướng mang tính lâu dài thì e rằng sẽ chỉ vẽ ra được nông thôn mới trên “bàn giấy”, hoặc một NTM được hiểu phiến diện theo cách nghĩ chủ quan của một số người trong quá trình triển khai, chứ thực sự không phải vì cuộc sống thực thụ như mong muốn của người dân. Bởi vậy, các địa phương cần cẩn trọng trong lộ trình xây dựng NTM, không nên chạy đua theo phong trào, để tránh những mặt trái không đáng có từ việc triển khai một chủ trương đúng đắn.

Nguyễn Quý

Cùng chuyên mục