Những kết quả đạt được trong 2 năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội đã tạo thêm thế và lực mới thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh ta phát triển. Quá trình thực hiện Nghị quyết đã có tác động tích cực, làm xuất hiện một số tiền đề, khả năng mới và có thêm những kinh nghiệm quý để đạt được mục tiêu phát triển nhanh, bền vững hơn trong giai đoạn tới.
Đồng thời cũng thể hiện sự trăn trở, quyết tâm cao hơn của tỉnh trong việc phát huy các yếu tố tiềm năng, lợi thế để phát triển tương xứng với vai trò, vị trí là địa bàn động lực trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng.
ảnh: Thái Cảnh
Mặc dù đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ, thành công nhất định trên một số lĩnh vực nhưng thẳng thắn nhìn nhận thì quá trình phát triển kinh tế - xã hội đang bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế. Trước hết phát triển kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí, vai trò là cực tăng trưởng trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Sự tác động lan toả cho phát triển trong vùng còn hạn chế, chưa toàn diện, chưa thể hiện được vai trò chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế, chưa rõ vị trí trọng tâm về kinh tế biển, một trong những trung tâm khai thác du lịch, cảng biển, thuỷ sản, thương mại của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 2 năm đầu thực hiện mặc dù đạt cao hơn mức bình quân chung của cả nước 1,5 lần nhưng mới chỉ đạt kế hoạch đề ra ở mức thấp, hiệu quả chất lượng tăng trưởng chưa cao, chưa đảm bảo tính bền vững. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, chưa phát huy tốt các yếu tố lợi thế nâng cao sức cạnh tranh của nhiều ngành, lĩnh vực, kể cả những ngành truyền thống vốn có nhiều thế mạnh. Môi trường đầu tư kinh doanh mặc dù đã được cải thiện, song trên nhiều lĩnh vực còn thiếu đồng bộ, vững chắc, tính hấp dẫn chưa mạnh. Theo phản ánh của một số doanh nghiệp, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cơ chế chính sách, các quyết định có liên quan đến doanh nghiệp, đến nhà đầu tư vẫn còn nằm ở các cơ quan quản lý Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư chưa được tiếp cận đầy đủ các thông tin này. Vì chưa công khai minh bạch nên nhà đầu tư phải chi phí rất nhiều thời gian và các chi phí không chính thức khác để làm việc với chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý Nhà nước.
Bước vào hội nhập kinh tế quốc tế khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh được xác định là lực lượng nòng cốt đứng mũi chịu sào đưa nền kinh tế chung của tỉnh hoà nhập với dòng chảy kinh tế thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng của lực lượng này tỉnh đã có nhiều cơ chế chính sách rất ưu ái dành cho phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, một số nơi lãnh đạo chính quyền địa phương, sở, ngành vẫn còn xem nhẹ vai trò của lực lượng này, chưa dành sự quan tâm đúng mức. Các hoạt động như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin pháp luật cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, cung cấp dịch vụ, công nghệ chưa được thực hiện tốt. Chính vì vậy mà lòng tin của doanh nghiệp tư nhân đối với các thiết chế của địa phương liên quan đến môi trường đầu tư không cao. Trong quá trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính của các cấp, các ngành chưa có sự phối kết hợp để giải quyết công việc của tổ chức và công dân một cách nhanh chóng và thuận lợi. Băn khoăn nhất của nhà đầu tư hiện nay đó là tỉnh chưa chuẩn bị được quỹ đất sạch, nhà đầu tư đến nhưng không có địa điểm triển khai dự án. Không tạo được quỹ “đất sạch” sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư tụt giảm, không chỉ đối với các doanh nghiệp đã đầu tư bị rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan” mà còn tạo tư tưởng không tốt đối với các nhà đầu tư có ý định vào đầu tư trên địa bàn. Tuy tỉnh đã quan tâm vận dụng và thực hiện nhiều cơ chế chính sách ưu đãi, khuyến khích phát triển song chưa có những cơ chế mang tính đột phá. Do đó nhiều yếu tố lợi thế, tiềm năng chưa được phát huy tốt. Khoảng cách phát triển giữa các vùng ngày càng lớn, đời sống của nhân dân khu vực vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.
Sâu bệnh đang gây hại nhiều diện tích lúa vụ xuân trên toàn tỉnh.
ảnh: PV
Thách thức lớn nhất đối với phát triển kinh tế - xã hội những năm tiếp theo đó là công tác quy hoạch chưa đồng bộ, hạ tầng giao thông đang bộc lộ sự bất cập lớn không theo kịp sự phát triển. Cơ sở hạ tầng giao thông hiện có đã không đáp ứng được nhu cầu đi lại, thông thương buôn bán giữa Quảng Ninh với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, miền núi phía Bắc. Quốc lộ 18A do lưu lượng xe quá đông, mật độ giao thông trên đường bị quá tải, một số đoạn trên tuyến đi qua các trung tâm dân cư trở nên quá chật hẹp thường bị tắc nghẽn vào giờ cao điểm. Tuyến đường miền Đông từ Mông Dương ra cửa khẩu Móng Cái, Bắc Phong Sinh (Hải Hà), Hoành Mô (Bình Liêu) đường nhỏ hẹp, nhiều cua gấp, đèo dốc rất khó khăn cho việc vận chuyển hàng hoá. Hệ thống cảng biển, cảng sông dù được đầu tư lớn nhưng chưa hoàn thiện, luồng lạch chưa được nạo vét, mở rộng. Trong khi tuyến đường bộ đang bị quá tải thì đường sắt hiện có lại không đồng bộ với mạng đường sắt quốc gia, toàn tỉnh hiện chưa có một tuyến đường sắt nào nối với các cảng biển. Không chỉ có hạ tầng giao thông còn nhiều bất cập mà hệ thống điện, nước chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư. Hiện tại đường điện cung cấp cho các khu công nghiệp còn thiếu, các trạm biến áp có công suất lớn còn ít, do đó thời gian mất điện lớn, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tổng công suất cấp nước của các nhà máy nước trên địa bàn đạt khoảng 120.000 m3/ngày đêm, mới đáp ứng nhu cầu cấp nước cho một số địa bàn trung tâm như TP Hạ Long, TX Cẩm Phả, Uông Bí, huyện Hoành Bồ, còn các địa phương khu vực miền Đông việc cấp nước rất khó khăn. Trên các tuyến đảo có tiềm năng về phát triển du lịch, nhiều nhà đầu tư cũng đã tìm hiểu nhưng vì cơ sở hạ tầng điện, nước, bưu chính viễn thông chưa đồng bộ nên chưa có “lực hút” nhà đầu tư. Cùng với đó các cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ bé, phân tán, chất lượng hàng hoá thấp, chi phí sản xuất cao, kém tính cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đang là thách thức lớn cho các đơn vị này. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn chuyển dịch chậm, sản xuất mang tính manh mún, tự phát. Trong nhiều năm giá trị sản xuất ngành trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng cao trong sản xuất nông nghiệp: 65-67%, chăn nuôi chỉ chiếm 32-36%, dịch vụ chiếm 1-3%. Dự báo trong giai đoạn tới các yếu tố khách quan sẽ còn tác động mạnh đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trước mắt là lạm phát, giá cả leo thang, thiên tai, dịch bệnh luôn diễn biến bất thường và đe doạ trực tiếp đến khả năng hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch Nghị quyết đã đề ra.
Những khó khăn thách thức trên đang đặt nhiệm vụ cho 2 năm rưỡi còn lại vẫn rất nặng nề, cần có sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc để hoàn thành các nhiệm vụ, chỉ tiêu ở mức cao hơn mức đã đạt được trong nửa nhiệm kỳ đầu, tạo thế và lực mới để Quảng Ninh phát triển nhanh hơn nữa trong các năm tiếp theo.