Bài phát biểu của đồng chí Phạm Lễ Chi, Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh tham gia về Luật Xuất bản tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XII

Thứ nhất, tôi nhận thấy Luật Xuất bản hiện hành đang trong tình trạng “cái thân lớn gấp 4 lần cái áo”. Cụ thể là: Với tên luật Quốc hội khoá XI thông qua năm 2004 là Luật Xuất bản, trong phần mở đầu ghi “luật này quy định về xuất bản”. Tuy nhiên tại Điều 1 phạm vi điều chỉnh có nội dung là “Luật này quy định về tổ chức và hoạt động xuất bản, quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất bản”.

Đoạn 2, Điều 1 quy định “hoạt động xuất bản bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm”. Theo đó, phạm vi điều chỉnh của luật này gồm có tổ chức và hoạt động xuất bản. Trong đó hoạt động xuất bản bao gồm 3 lĩnh vực: Xuất bản, in xuất bản phẩm, phát hành xuất bản phẩm. Như thế, phạm vi điều chỉnh ít nhất cũng rộng hơn 4 lần so với nội dung đã nêu tại phần mở đầu và tên luật, tức là điều chỉnh về tổ chức xuất bản, về xuất bản, in xuất bản phẩm và phát hành xuất bản phẩm. Nghiên cứu lại Luật Xuất bản năm 1993, thấy rằng cũng với tên luật là Luật Xuất bản nhưng phần mở đầu của luật đã ghi luật này quy định chế độ hoạt động xuất bản. “Theo Điều 4 luật năm 1993: Hoạt động xuất bản quy định tại luật này bao gồm các lĩnh vực xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm”. Có thể nói, quy định của Luật Xuất bản năm 1993 đảm bảo sự phù hợp giữa phạm vi điều chỉnh với những nội dung cụ thể trong luật.

Tương tự, Luật Xuất bản năm 2004 quy định tại Chương II: Lĩnh vực xuất bản, Chương III: Lĩnh vực in xuất bản phẩm và tại Chương IV: Lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm, là phù hợp với phạm vi điều chỉnh của luật. Do vậy tôi kiến nghị: Nhân dịp sửa đổi, bổ sung luật lần này cũng cần sửa lại nội dung trong phần mở đầu đã trích dẫn trên đây tại luật năm 2004 để không có sự khấp khểnh trong văn bản luật.

Thứ hai, tôi đề nghị sửa lại nội dung đã ghi tại Điều 43 Dự án luật sửa đổi, bổ sung cho rõ và chặt chẽ ở hai khoản 1 và 3. Với tiêu đề của Điều 43 là Hợp tác quốc tế về phát hành xuất bản phẩm. Tại Khoản 1 Dự án luật sửa đổi, bổ sung có ghi: Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhập khẩu xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tôi nhận thức được rằng nội dung mà Ban soạn thảo muốn nêu tại khoản này là quy định “việc tổ chức và cá nhân là người nước ngoài nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”. Tuy nhiên, cách diễn đạt trong dự thảo theo tôi là thiếu từ, và do vậy quy định này sẽ trở thành một quy định vô lý. Phải chăng pháp luật nước ta quy định cả việc người nước ngoài nhập khẩu xuất bản phẩm vào đất nước của họ? Do vậy, tôi đề nghị khoản này cần được diễn đạt cho đủ là: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài được nhập khẩu xuất bản phẩm vào Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”.

Khoản 3, Điều 43 Dự án luật sửa đổi, bổ sung Luật Xuất bản ghi: Tổ chức nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam để giới thiệu về tổ chức và sản phẩm của mình, xúc tiến các giao dịch về phát hành xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật Việt Nam và phải được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép. Tương tự như Khoản 1 nói trên, tôi cho rằng cách diễn đạt như vậy là không đủ, không chặt chẽ. Cần nói rõ tổ chức gì, giới thiệu về tổ chức của người nước ngoài trong lĩnh vực nào? để tránh những điều bất lợi có thể xảy ra. Do vậy, tôi đề nghị cần sửa lại khoản này là: “Tổ chức nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực xuất bản (hoặc trong trường hợp cần hạn chế thì chỉ là hoạt động trong lĩnh vực phát hành xuất bản phẩm) được thành lập văn phòng đại diện ở Việt Nam, để giới thiệu về tổ chức và sản phẩm của mình, xúc tiến các giao dịch về phát hành xuất bản phẩm theo quy định của pháp luật Việt Nam, phải được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép”.

Ngoài ra với tiêu đề của điều này là “Hợp tác quốc tế về phát hành xuất bản phẩm” nhưng với 5 khoản của điều này như trong dự thảo cũng cần nghiên cứu để có một tiêu đề khác phù hợp hơn với nội dung 5 khoản của điều, nhất là khi sử dụng khái niệm “hợp tác quốc tế”. Theo tôi, khái niệm “hợp tác quốc tế” sẽ có nhiều vấn đề rộng hơn so với 5 khoản đã được ghi trong luật. Đề nghị Ban soạn thảo xem xét, nghiên cứu để có tiêu đề khác thay thế cho tiêu đề của điều này, để phù hợp với các vấn đề cần quy định tại điều này.

Cùng chuyên mục