Bài toán xuất - nhập khẩu than: Không thể giật gấu, vá vai

Theo thống kê của Sở Công thương, tính đến hết tháng 5-2008, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xuất khẩu sang Trung Quốc 12,46 triệu tấn than các loại (bao gồm cả than cám, xít nghiền có độ tro từ 55-65%), trong đó xuất qua khu chuyển tải Vạn Gia trên 4,2 triệu tấn, riêng TKV xuất qua Vạn Gia 2,87 triệu tấn.

Sau 2 tháng thực hiện kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về việc dừng hoạt động xuất khẩu than qua Khu chuyển tải Vạn Gia từ ngày 1-6-2008 để chuyển sang xuất khẩu than "chính ngạch" thì hoạt động xuất khẩu than sang Trung Quốc gần như bị đình trệ hoàn toàn.

Bài toán xuất - nhập khẩu than: Không thể giật gấu, vá vai ảnh 1
Tàu vào nhận than xuất khẩu tại Cảng Cẩm Phả.
                                                                                           Ảnh: TQ
 

Từ kiến nghị của TKV

Trước đây, việc xuất khẩu than sang Trung Quốc chủ yếu theo đường biên mậu và phương tiện chuyên chở bằng tàu S1. Theo số liệu điều tra của TKV, số lượng tàu sông S1 tham gia vận tải than tại Quảng Ninh có khoảng 1.200 phương tiện, trong đó phương tiện của Quảng Ninh có 195 chiếc, còn lại là của các tỉnh Thanh Hoá, Nam Định, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc... Tàu S1 là phương tiện thuỷ nội địa chỉ được phép hoạt động ở những vùng nước có chiều cao sóng lớn nhất tương ứng 2,00m và chỉ được hoạt động tại tuyến Cửa Ông - Móng Cái, Hải Phòng - đảo Cát Bà, Vịnh Hạ Long -Cát Bà, các cửa sông đổ ra biển, các vùng vịnh kín. Tuy nhiên, để tháo gỡ khó khăn, Bộ Giao thông Vận tải đã có công văn số 5169/CV-BGTVT-VT ngày 20-8-2007 về việc phương tiện thuỷ nội địa S1 xuất cảnh đi Trung Quốc qua khu chuyển tải Vạn Gia. Theo ý kiến của Bộ này thì những phương tiện thuỷ nội địa mang cấp VR-S1 có đủ điều kiện hoạt động tại các bến, cảng thuộc tỉnh Quảng Ninh qua khu chuyển tải Vạn Gia đến các bến, cảng của Trung Quốc với điều kiện việc hoạt động ở các bến, cảng Trung Quốc phải được sự chấp thuận của Trung Quốc theo thông lệ quốc tế. Những khu vực neo đậu làm hàng ở phía Trung Quốc phải có chế độ sóng, gió tương tự khu vực Vạn Gia. Các phương tiện thuỷ nội địa S1 phải có đội ngũ thuyền viên đảm bảo đủ tiêu chuẩn, bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn theo quy định. Do vậy mặc dù không đủ các điều kiện vận chuyển theo thông lệ quốc tế nhưng tàu S1 vẫn được phép vận chuyển than sang Trung Quốc theo đường biên mậu.

Kế hoạch xuất khẩu than sang Trung Quốc của TKV đặt ra trong năm 2008 đạt 4 triệu tấn nhưng đến thời điểm này TKV mới chỉ xuất khẩu được 2,87 triệu tấn qua khu chuyển tải Vạn Gia. Việc xuất khẩu than sang Trung Quốc theo hướng dẫn tại công văn số 4437/BCT-XNK ngày 28-5-2008 của Bộ Công thương đã khiến TKV gần như không thể thực hiện được bởi rất khó thuê được tàu vận chuyển than đạt tiêu chuẩn hàng hải theo thông lệ quốc tế. Việc chuyển tải than từ xà lan sang phương tiện đủ tiêu chuẩn tại cảng Hòn Nét (Cẩm Phả) cũng rất khó khăn bởi hiện nay cảng đã quá tải về điểm đỗ để chuyển tải than...

Để tháo gỡ khó khăn, TKV đề nghị UBND tỉnh, Bộ Công thương cho phép TKV được rót than xuất khẩu tại 10 cảng thuỷ nội địa đã được cơ quan quản lý cấp phép theo từng khu vực. Cụ thể: Khu vực Uông Bí - Mạo Khê là các cảng Điền Công, Bến Cân; khu vực Hòn Gai có cảng Nam Cầu Trắng, Quyết Thắng, Hà Khánh - Diễn Vọng, Vũ Oai - Cái Món, Việt Hưng; khu vực Cẩm Phả có cảng Khe Dây, cảng Km6, cảng 10-10. Nếu xét về quy trình thì việc bốc rót than xuống phương tiện thuỷ nội địa tại các cảng thuỷ nội địa của TKV sau đó làm thủ tục xuất khẩu than tại cảng Cẩm Phả hoặc Cái Lân để vận chuyển và giao tại các cảng lẻ khu vực Quảng Tây - Trung Quốc  là chưa phù hợp với việc xuất khẩu than của Nhà nước cũng như các quy định về hàng hải theo thông lệ quốc tế. Do vậy, TKV kiến nghị với Chính phủ và tỉnh cùng các bộ, ngành liên quan có biện pháp tháo gỡ, tạo điều kiện để phương tiện thuỷ nội địa S1 được phép vận chuyển than xuất khẩu. TKV sẽ lựa chọn số lượng tàu nhất định, đảm bảo các quy định của Nhà nước được vận chuyển than xuất khẩu theo hợp đồng của TKV và thông báo tới các cơ quan chức năng để theo dõi, quản lý giám sát. Như đã nói ở trên, phương tiện thuỷ nội địa S1 không đủ điều kiện để vận chuyển theo thông lệ hàng hải quốc tế nên việc cho phép đội tàu S1 vào tham gia vận chuyển than xuất khẩu sang Trung Quốc sẽ đồng nghĩa với việc lại cho phép xuất khẩu than bằng đường biên mậu qua khu chuyển tải Vạn Gia (Móng Cái).

Cần một giải pháp vĩ mô

Mặc dù TKV đã có các động thái tích cực trong công tác quản lý cả quá trình khai thác, vận chuyển và kinh doanh than của các đơn vị trong Tập đoàn như:  Ký trực tiếp hợp đồng xuất khẩu với khách hàng nước ngoài; thành lập 3 đơn vị kho vận để quản lý các kho cảng và nguồn than tiêu thụ (Công ty Kho vận Đá Bạc, Công ty Kho vận Hòn Gai và Công ty Kho vận Cẩm Phả). TKV cũng đã cam kết việc quản lý tiêu thụ trong đó có than xuất khẩu sẽ chặt chẽ hơn và công tác xuất khẩu sẽ dần được ổn định, từng bước đi vào nền nếp. Tuy nhiên, dư luận cũng có quyền đặt câu hỏi: Việc TKV đề nghị Chính phủ cho phép tái xuất khẩu than sang Trung Quốc bằng đường biên mậu qua khu chuyển tải Vạn Gia thì mọi nỗ lực của tỉnh trong việc chấn chỉnh và lập lại trật tự trong công tác quản lý Nhà nước về các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ than có rơi vào tình trạng “ném đá ao bèo”? Việc buông lỏng quản lý Nhà nước trong quá trình khai thác, vận chuyển, chế biến than và tiêu thụ than đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Và ai cũng biết rằng hoạt động khai thác, vận chuyển, tiêu thụ than trái phép có nguy cơ tái diễn cao, có thể biến tướng dưới nhiều hình thức khác nhau. Cho nên việc cho phép tái xuất khẩu than sang Trung Quốc bằng đường biên mậu qua khu chuyển tải Vạn Gia cần được các cấp, ngành xem xét kỹ lưỡng. Vạn Gia là một điểm, gần Trung Quốc nên rất khó kiểm soát nếu lại để các phương tiện S1 làm thủ tục xuất khẩu than tại đây như trước.

Thiết nghĩ, việc tháo gỡ khó khăn cho TKV trong hoạt động xuất khẩu than sang Trung Quốc là cần nhưng không thể bằng mọi giá. Theo dự báo, việc nhập khẩu than và đầu tư ra nước ngoài để khai thác than đưa về nước sử dụng sẽ gặp nhiều khó khăn trong khi nhu cầu than của nền kinh tế tăng cao. Hiện nay, nhu cầu điện năng của Việt Nam ngày càng tăng mạnh với mức tăng 16%. Thiếu điện đang là yếu tố đe doạ đến tình hình phát triển kinh tế bền vững của nước ta.

Trong chiến lược phát triển ngành Than đến năm 2015 tầm nhìn đến năm 2025 mà Chính phủ vừa phê duyệt, đã định hướng ngành Than phải đặc biệt quan tâm tới việc đáp ứng tối đa nhu cầu trong nước và giảm dần xuất khẩu để đẩy lùi thời điểm nhập khẩu càng chậm càng tốt. Bài toán xuất - nhập khẩu than không thể giật gấu, vá vai. Do vậy, để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia mà vẫn đảm bảo tái đầu tư cho sản xuất, Chính phủ cần có giải pháp vĩ mô hỗ trợ TKV trong việc hình thành các tổng kho đảm bảo lượng than dự trữ cần thiết để phục vụ phát triển kinh tế cho những năm sau chứ không phải tháo gỡ khó khăn để “bán rẻ” than như hiện nay.

Cùng chuyên mục