Quảng Ninh được Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi là ‘’nước Việt Nam thu nhỏ’’. Đây là quê hương của nhiều tộc người Việt tiến ra biển Đông cách đây hàng nghìn năm và sáng tạo nên văn hoá biển rực rỡ.
Năm 2005 tại khu vực Hòn Hai - Cô Tiên, giữa lòng TP Hạ Long đã tiến hành khảo cổ di chỉ của người Việt Cổ. Đầu năm 2006, di chỉkhảo cổ này được xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia. Khi thực dân Pháp tiến hành khai mỏ than, lao động từ nhiều vùng, chủ yếu là vùng châu thổ sông Hồng ra mỏ làm phu. Những phong tục, tập quán, những tinh hoa văn hoá phi vật thể du nhập vào khu mỏ cùng văn hoá bản địa tạo ra văn hoá riêng - văn hoá công nhân mỏ. Như vậy, văn hoá biển và văn hoá công nhân mỏ trở thành bản sắc riêng của văn hoá Quảng Ninh. Trong tiến trình phát triển của Đất nước thì văn hoá Quảng Ninh tiếp biến mạnh mẽ và ngày càng đặc sắc, giữa yếu tố dân tộc và yếu tố hiện đại.
Tiết mục hát then trong ngày hội văn hoá các dân tộc Bình Liêu 2007.
Ảnh: Thu Hương
1. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống được bảo đảm bằng cơ sở vật chất mới. Từ năm 2007 đến năm 2015, Quảng Ninh phấn đấu hoàn thành hệ thống bảo tàng gồm: Bảo tàng tổng hợp Quảng Ninh (cơ sở mới), xây dựng Bảo tàng sinh thái Hạ Long, xây dựng Bảo tàng Than Việt Nam, các bảo tàng tư nhân, các nhà truyền thống lịch sử văn hoá. Văn hoá phi vật thể của các dân tộc thiểu số được bảo tồn bởi các dự án văn hoá - du lịch... Thực tiễn cho thấy, công tác bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống, nếu không có cơ sở vật chất mới, phương tiện hiện đại thì khó bảo đảm nguyên vẹn giá trị. Đây là kết quả tỷ lệ thuận.
2. Xu hướng xây dựng các công trình văn hoá đương đại để trở thành di sản văn hoá mai sau. Hiện nay, Quảng Ninh đang dày công chuẩn bị cho Dự án nhà hát, riêng phòng khán giả lớn chứa hơn 1.200 người. Qua 3 năm thiết kế kiến trúc do nhiều kiến trúc sư trong nước và nước ngoài thực hiện, mẫu kiến trúc công trình cơ bản hoàn chỉnh để chuyển tiếp công việc chuẩn bị đầu tư, dự kiến khởi công vào năm 2008. Các công trình văn hoá cấp tỉnh, cấp cơ sở đều đặt ra các tiêu chí cao: độc đáo về hình dáng kiến trúc, bền vững về tuổi thọ, công năng được phát huy cao độ, tiện lợi cho người hưởng thụ. Các công trình văn hoá phải đạt tới tinh hoa, trở thành di sản văn hoá mai sau. Đầu năm 2007, tại khu Di tích lịch sử danh thắng Yên Tử khánh thành ngôi chùa Đồng duy nhất ở Việt Nam. Hơn 2 tháng đầu năm, số khách hành hương tới chùa Đồng gần gấp hai lần số khách hành hương về khu di tích Yên Tử trong cả năm 2006. Và số tiền công đức cho ngôi chùa thiêng liêng và độc đáo này, trong hơn 2 tháng là hơn 10 tỷ đồng. Rõ ràng, trong thời kỳ CNH - HĐH, các công trình văn hoá chính là bộ mặt của mỗi vùng đất Việt.
3. Đẩy mạnh công nghiệp hoá ngành văn hoá trong tiến trình CNH - HĐH đất nước. Đây là sự lựa chọn mới duy nhất để bảo tồn và phát huy cao độ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể. Các tác nghiệp mang tính thói quen, kinh nghiệm đã trở nên lạc hậu, xa lạ khi đối mặt với các yêu cầu hưởng thụ văn hoá ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân. Mấy năm nay, nhiều tập thể, cá nhân có nhu cầu công đức trùng tu, tôn tạo các di tích của tám vị Vua Trần tại vùng Đông Triều. Một số ý tưởng thiết kế mô hình kiến trúc lăng mộ Vua Trần được ấp ủ. Để đáp ứng nhu cầu của nhân dân, UBND tỉnh Quảng Ninh và Bộ Văn hoá - Thông tin đã cho phép tiến hành khảo cổ khoa học lăng mộ vua Trần Anh Tông. Công việc khảo cổ tiến hành xong giai đoạn I. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tống Trung Tín, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam đánh giá: đây là lăng mộ có bề mặt nguyên vẹn nhất thời Lý - Trần với quá nhiều độc đáo và bấtngờ về kiến trúc từ các tầng văn hoá. Vì vậy, việc trùng tu lăng mộ Vua Trần Anh Tông đã vượt ra khỏi những ước đoán, những ý tưởng từng được nhiều người ấp ủ ban đầu. Từ đó đặt ra công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá phải bằng tính chuyên nghiệp cao. Với tổ chức chuyên nghiệp, bộ máy chuyên nghiệp, các đơn vị quản lý phấn đấu có đội ngũ chuyên nghiệp và mọi tác nghiệp chuyên nghiệp. Đây là những yêu cầu khách quan để xây dựng ngành công nghiệp văn hoá. Quảng Ninh là địa phương đầu tiên trong cả nước tiến hành xây dựng ngành công nghiệp văn hoá. Kết quả đạt được sẽ tương ứng với quá trình quản lý sáng tạo.
4. Phát huy sự nhiệt tình và trí tuệ toàn dân theo chủ trương xã hội hoá trong quá trình bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá tại địa phương đã và đang đem lại nhiều kết quả lớn.
Lễ hội Đình Lục Nà được Sở Văn hoá - Thông tin phục dựng vào mùa xuân năm 2006. Lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng biên giới mai một qua nhiều thế hệ. Địa phương muốn kế thừa văn hoá truyền thống của cha ông nhưng không chắp nối thành kịch bản, không có đạo diễn chuyên nghiệp. Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ninh đã đầu tư kiến thức và kinh phí giúp bà con triển khai các nội dung kịch bản. Hàng nghìn người dân tham gia luyện tập đóng góp kinh phí làm lễ. Lễ hội được phục dựng còn có sự tham gia của bà con dân tộc thiểu số ở nhiều địa phương vùng biên giới Đông Bắc với sự hứng khởi thiêng liêng. Tiếp đó, mùa xuân 2007 lễ hội được nhân dân địa phương tự tổ chức và thực sự trở thành ngày hội tôn vinh văn hoá bảo vệ Tổ quốc của tổ tiên.
Nhiều doanh nghiệp trên địa bàn xây dựng các điểm văn hoá truyền thống trở thành điểm đến của khách du lịch toàn cầu. Tiêu biểu là hai điểm biểu diễn nghệ thuật múa rối nước và nghệ thuật sân khấu dân tộc tại Công ty Cổ phần Quốc tế Hoàng Gia. Dù sân khấu nhỏ, diễn viên chưa chuyên nghiệp nhưng trong gần mười năm hoạt động, nơi đây thu hút hàng chục vạn lượt khách tới chiêm ngưỡng, hưởng thụ. Giá vé vào cổng đối với người nước ngoài hơn 10 USD nhưng khán giả rất hài lòng khi được hưởng thụ văn hoá dân gian của Việt Nam. Nhân dân chính là lực lượng bảo tồn nguyên vẹn giá trị văn hoá truyền thống, dù nơi đó là vùng sản xuất công nghiệp. Tại ‘’Thủ đô than’’ của Việt Nam là thị xã Cẩm Phả có câu lạc bộ nghệ thuật chèo. Nhiều vở và trích đoạn vở chèo cổ do Câu lạc bộ biểu diễn được công nhân mỏ mến mộ.
5. Mở rộng giao lưu quốc tế để thấy hết giá trị văn hoá bản địa. Đây là dịp khẳng định tính độc đáo của văn hoá truyền thống và soi rọi lại các biện pháp bảo tồn, phát huy văn hoá của vùng đất Quảng Ninh trước các nền văn hoá thế giới du nhập vào. Trong thời gian gần đây, Quảng Ninh cử nhiều Đoàn nghệ thuật ra nước ngoài biểu diễn và tạo điều kiện cho nhiều Đoàn nghệ thuật của các nước Châu á, Châu Âu, Châu Mỹ tới biểu diễn tại khu vực TP Hạ Long. Các du khách quốc tế, kể cả các nghệ sĩ chuyên nghiệp nước ngoài luôn tỏ ra khâm phục nghệ thuật truyền thống và ngạc nhiên trước văn hoá hiện đại của Vùng mỏ.
Qua giao lưu văn hoá, trước hết là những người làm văn hoá Quảng Ninh thấy những yếu kém về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tính chuyên nghiệp. Các sản phẩm văn hoá chưa trở thành hàng hoá đặc biệt ở mọi nơi, mọi lúc. Công nghiệp văn hoá đang sàng lọc, điều chỉnh để dâng ra thị trường loại hàng hoá đặc biệt, duy nhất này tới mọi người trong nước và nước ngoài khi họ có nhu cầu; đồng thời định hướng và hướng dẫn nhu cầu của họ khi họ trực tiếp tìm hiểu và hưởng thụ các giá trị văn hoá tại địa phương.
Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá riêng của Quảng Ninh, bao gồm văn hoá biển và văn hoá công nhân mỏ là một quá trình. Trong thời kỳ CNH - HĐH thì lộ trình được rút ngắn với cách quản lý chuyên nghiệp khi đưa văn hoá trở thành ngành công nghiệp trong bối cảnh chung đồng hành với công nghiệp hoá ngành du lịch và công nghiệp hoá các lĩnh vực dịch vụ. Lộ trình được chia ra cho giai đoạn 2006 - 2010 và 2011 - 2015. Tới 2015, ngành công nghiệp văn hoá của Quảng Ninh cơ bản hoàn thành theo hướng hiện đại.
Thời gian 10 năm từ 2006 - 2015 là thời kỳ phát triển mới của văn hoá trở thành động lực cho sự phát triển mới về kinh tế xã hội của Quảng Ninh trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI.