Bảo vệ môi trường biển Quảng Ninh

Thời gian qua, cùng với sự phát triển kinh tế và tốc độ đô thị hoá nhanh, đã tạo ra nhiều sức ép đến môi trường biển và vùng biển Quảng Ninh.

Bảo vệ môi trường biển Quảng Ninh ảnh 1
Nhiều hệ thống thoát nước thải trên địa bàn TP Hạ Long hiện chưa được xử lý, xả thẳng ra Vịnh Hạ Long. Kênh thoát nước thải tại phố Hải Lộc, phường Hồng Hải là một trong số đó.

Gia tăng dân số là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến biến động tài nguyên, môi trường. Mặt khác gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên, tăng lượng nước thải và chất thải rắn qua đó có những tác động tiêu cực đến sử dụng tài nguyên và môi trường: Đất, nước, rừng, đa dạng sinh học,... Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, lượng nước thải năm 2010 là 94.160m3/ngày đêm; đến năm 2020 sẽ là 138.544m3/ngày đêm; rác thải năm 2010 là 119.051 tấn/năm; 2020 sẽ là 197.530 tấn/năm. Diện tích mặt nước Vịnh Hạ Long bị thu hẹp gần 900 ha (từ 6.542 ha năm 1965 còn khoảng 5.645 ha năm 2009). Chủ yếu ở bờ phía tây và phía bắc của Vịnh, tập trung tại một số khu vực: Khu 1, khu 2 (phường Bãi Cháy), xóm Mua, xóm Chùa (xã Lê Lợi), xóm Mũ, xóm Trại (xã Thống Nhất) huyện Hoành Bồ; bờ đông có hai khu vực bị san lấp đáng kể là phường Yết Kiêu và phường Hà Khánh. Đáng chú ý, do những tác động trên đã khiến diện tích rừng ngập mặn (RNM) bị thu hẹp; nếu như năm 1965 diện tích RNM là 3.261 ha thì đến 2004 chỉ còn 2.025 ha.

Việc lấn biển xây dựng hạ tầng trong thời gian qua, đặc biệt tại khu vực TP Hạ Long, Cẩm Phả đã gây ra hiện tượng rửa trôi đất đá, đẩy bùn ra vùng ven bờ do san lấp mặt bằng gây đục nước biển ven bờ cũng như bồi lắng luồng lạch, phá huỷ các bãi triều vùng ven bờ, hệ sinh thái RNM là nơi cư trú, sinh sản của các loại thuỷ hải sản. Bên cạnh đó, việc tăng nhanh sản lượng khai thác than cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những vấn đề về môi trường ven biển. Năm 2009, sản lượng than tăng hơn 5 lần so với năm 1995, với tốc độ khai thác như trên thì lượng đất, đá đổ thải hàng năm khoảng 200 triệu m3/năm, tạo thành các bãi thải lớn tạo nhiều tiềm ẩn về sạt lở, rửa trôi đất đá. Nước thải từ khai thác, chế biến than hàng năm khoảng 20 triệu m3, có độ pH thấp, hàm lượng Fe, Mn cao gây ô nhiễm môi trường nước tiếp nhận, môi trường không khí bị ảnh hưởng do công tác vận chuyển. Hoạt động vận tải trên biển cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường biển. Năm 2008, trên địa bàn tỉnh có 460 tàu du lịch chở khách tham quan Vịnh. Mặc dù chưa có kiểm kê phát thải từ ngành Du lịch nhưng cũng có thể thấy khối lượng chất thải rắn thải ra nếu chỉ tính 5kg/ngày/thuyền sẽ có 3 tấn rác thải và với khoảng 400 hộ dân trên biển khoảng 0,7 tấn (0,3-0,5kg/người/ngày). Ngoài ra, hiện nay khu vực Vịnh Hạ Long có trên 500 nhà hàng, nhà bè nổi nằm rải rác tại khu vực Cột 5, Cột 3, Hòn Gai, Hùng Thắng, Đại Yên và 3 làng chài Cửa Vạn, Cặp Dè, Ba Hang xả trực tiếp nước thải, chất thải rắn xuống biển làm giảm chất lượng nước (DO giảm, BOD tăng), nước biển chuyển màu do xuất hiện tảo. Cùng với đó, các hoạt động phát triển từ lục địa là nguyên nhân chính gây ô nhiễm biển ven bờ, chiếm 70% tổng lượng nguồn thải trên địa bàn tỉnh. Khu vực ven biển TP Hạ Long, Hoành Bồ, Cẩm Phả môi trường nước có những biểu hiện ô nhiễm cục bộ. Hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) cao, oxy hoà tan (DO) giảm, nhu cầu oxy sinh hoá và hoá học (BOD, COD) tăng, nitơrit và khuẩn gây bệnh coliform tăng... do ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt từ đất liền, các hoạt động sản xuất công nghiệp gần bờ, lấn biển. Như vậy, rõ ràng những số liệu trên cho thấy sự tác động của hoạt động từ thềm lục địa đã ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường biển và ven biển trên địa bàn tỉnh.

 Bảo vệ môi trường biển Quảng Ninh ảnh 2
Dự án lấn biển xây dựng khu đô thị Cao Xanh, cụm công nghiệp Hà Khánh phía đông Vịnh Cửa Lục gây bồi lắng vịnh.

Trước thực trạng trên, Sở Tài nguyên và Môi trường đã thành lập Hội đồng liên ngành tiến hành thẩm định, thanh tra, kiểm tra trong việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đề án bảo vệ môi trường, báo cáo hậu ĐTM, kiểm soát môi trường, lập dự án cải tạo và phục hồi môi trường, đề án xả nước thải vào nguồn nước, thu phí nước thải, kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu của các cơ sở và kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu, bản đồ nhạy cảm đường bờ cho toàn tỉnh. Hàng năm, lãnh đạo tỉnh có buổi làm việc với ngành Than để cùng xem xét việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện pháp luật về tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Đồng chí Trần Văn Ngoan, Trưởng Phòng Biển và Hải đảo (Sở Tài nguyên và Môi trường) cho biết: Để quản lý chặt nguồn thải từ lục địa ảnh hưởng đến vùng biển và ven biển trên địa bàn tỉnh, thời gian tới tỉnh đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cần sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp luật riêng cho công tác quản lý biển, đảo; tăng cường giao thẩm quyền thanh, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường biển cho Sở Tài nguyên và Môi trường. Tăng cường công tác thanh, kiểm tra nguồn gây ô nhiễm từ lục địa, sớm đưa Quỹ Bảo vệ Môi trường Quảng Ninh vào hoạt động. Cần áp dụng phương thức quản lý tổng hợp vùng ven bờ trên cơ sở rà soát lại các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, của tỉnh cũng như các ngành để đề ra một chiến lược quản lý tổng hợp không gian vùng ven bờ đối với tỉnh Quảng Ninh.

Cùng chuyên mục