Một trong những yếu tố để đạt được đích đến nông thôn mới đó là người dân phải tự nâng cao được nhận thức trong giữ gìn bảo vệ môi trường nông thôn và trước mắt là ý thức tự giác giữ gìn môi trường sống của gia đình, làng xóm, dọn dẹp vệ sinh môi trường xung quanh phong quang sạch đẹp.
Môi trường nông thôn không còn trong lành Về nhiều xã của các huyện Đông Triều, Yên Hưng, Hải Hà hẳn nhiều người không khỏi ngỡ ngàng trước bức tranh phố trong làng. Tiếng là làng quê nhưng khó gặp được những hàng rào tre hay giậu dâm bụt ngăn vườn giữa hai hộ gia đình như trước kia, bởi giờ đây nhà cửa ken sát nhau chẳng khác gì phố xá, rất ít nhà còn có được “vườn rộng rào thưa”. Đến hết năm 2010 toàn tỉnh mới có 41/125 xã đạt chuẩn về cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường, 65 xã đạt chỉ tiêu không có hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp, 15 xã đạt chuẩn về chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định. Có lẽ chính vì mật độ dân cư sinh sống quá dày trong khi các điều kiện cơ sở hạ tầng vẫn chỉ là của một vùng nông thôn truyền thống nên môi trường sống của người dân ở các khu vực này ngày càng trở nên chật chội, ngột ngạt. Ở nhiều vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh hiện nay không còn thấy sự trong lành, khoan khoái của làng quê bởi ô nhiễm môi trường từ trong làng ra ngoài đồng đã trở nên nghiêm trọng. Lý giải về nguyên nhân khiến tình trạng ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn hiện nay, một cán bộ của Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: Qua khảo sát của ngành cho thấy, do tập quán sản xuất của cư dân nông thôn từ bao đời nay là “chuồng lợn gần nhà, chuồng gà cạnh bếp”, toàn bộ hệ thống chất thải từ quá trình chăn nuôi không được qua xử lý thải thẳng ra môi trường. Mặc dù tỷ lệ dân số khu vực nông thôn của tỉnh được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đã đạt cao nhưng từ bao đời nay do thói quen sử dụng nguồn nước tự nhiên sẵn có ở ao hồ, sông suối, từ những chiếc giếng tự đào. Có nơi cả làng vẫn dùng chung một giếng nước. Họ coi sông suối vừa là nơi tắm rửa giặt giũ cho người và gia súc, vừa là nơi cung cấp nước sinh hoạt. Vì vậy các bệnh chủ yếu thường mắc phải do nguồn nước và ăn ở không hợp vệ sinh của cư dân vùng nông thôn hiện nay là tiêu chảy, các bệnh về giun, đường ruột, ngoài da, đau mắt hột, mắt đỏ. Đặc biệt là các bệnh phụ khoa ở phụ nữ, một số xã có tỷ lệ chị em mắc bệnh phụ khoa do ăn ở, sử dụng nguồn nước mất vệ sinh chiếm tới gần 50%. Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh hiện nay đã đáng báo động, nhất là ở các vùng tập trung đông dân cư, khu vực có các làng nghề, có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, có các cụm công nghiệp lân cận. Với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn hiện nay khá nhanh nhưng công tác quản lý, quy hoạch chưa theo kịp nên ở nhiều vùng nông thôn người dân đã tự quy hoạch bãi đổ rác thải ngay bên lề đường, ngõ xóm. Trong khi đó dịch vụ vệ sinh môi trường ở đây chưa có, ý thức người dân không cao. Thậm chí nhiều người coi việc giữ gìn vệ sinh môi trường không phải là việc của cá nhân họ, mà coi đây là việc của xã hội. Nhiều người còn giữ tư tưởng “sạch nhà ta, mặc nhà hàng xóm”. Cùng với việc thiếu quy hoạch về điểm thu gom, xử lý rác thải, nước thải ở các vùng nông thôn hiện nay đang gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất không chỉ mất an toàn về vệ sinh thực phẩm mà còn có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của cư dân khu vực nông thôn. Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ thực vật, trung bình một năm nông dân trong tỉnh sử dụng hết hơn 40 tấn thuốc bảo vệ thực vật để chăm sóc, bảo vệ cây trồng, tương ứng sẽ có hơn 4 tấn rác thải từ bao bì bảo quản được thải ra môi trường. Cần sự hợp tác của cả xã hội Trong những năm qua từ nguồn đầu tư khác nhau công tác bảo vệ môi trường vùng nông thôn đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, chưa có xã nào đạt chuẩn về môi trường theo tiêu chí nông thôn mới. Đến hết năm 2010 toàn tỉnh mới có 41/125 xã đạt chuẩn về cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường, 65 xã đạt chỉ tiêu không có hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp, 15 xã đạt chuẩn về chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định; 83% số hộ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 67% số hộ gia đình nông thôn có hố xí hợp vệ sinh, 64% số chuồng trại chăn nuôi đã được cải tạo và xây dựng, trong đó 3% số chuồng trại chăn nuôi được xử lý bằng công nghệ Biogas, tập trung chủ yếu ở huyện Đông Triều, Yên Hưng. Trong công tác bảo vệ môi trường vùng nông thôn hiện nay đang thiếu thể chế chính sách hỗ trợ đầu tư về xử lý chất thải trong quá trình chăn nuôi, chưa có những giải pháp thích hợp để thực hiện chỉ tiêu về kiểm soát ô nhiễm làng nghề. Thị trường vệ sinh môi trường nông thôn chưa hình thành rõ ràng, các chính sách khuyến khích đầu tư và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là khu vực tư nhân. Mặc dù đã có 83% dân số nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tuy nhiên chỉ có khoảng 28,5% được tiếp cận với nguồn nước sạch (nếu tính theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế), trong khi mục tiêu của Việt Nam đến 2020 là đảm bảo cho 100% dân cư nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sạch với số lượng tối thiểu là 60 lít/người/ngày. Theo dự tính, số lượng làng nghề và chăn nuôi sẽ tiếp tục tăng lên trong những năm tới, việc xử lý chất thải làng nghề và chất thải chăn nuôi vì thế sẽ đòi hỏi phải có sự đầu tư lớn. Để giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn trong những năm tới tỉnh đã xác định sẽ xây dựng, cải tạo hệ thống tiêu thoát nước thải, hệ thống xử lý rác thải đơn giản, hệ thống cấp nước sinh hoạt; sửa chữa, khắc phục tình trạng ô nhiễm về nguồn nước, không khí hiện nay ở địa bàn xã; xây dựng cảnh quan môi trường sinh thái ở mỗi gia đình và khu vực cộng đồng theo hướng xanh - sạch - đẹp. Chuyển các trại chăn nuôi tập trung, cơ sở ngành nghề gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư; xây dựng hầm biogas cho mỗi hộ; mỗi thôn hoặc liên thôn có một tổ chức thu gom, xử lý rác thải tại khu tập trung; chỉnh trang nghĩa địa theo quy hoạch và xây dựng quy chế quản lý. Tuy nhiên, chỉ bằng các chính sách quản lý, đầu tư của nhà nước thôi chưa đủ mà vấn đề quan trọng là sự tự thay đổi trong nhận thức của cộng đồng dân cư khu vực nông thôn. Làm thế nào để nâng cao công tác bảo vệ môi trường nông thôn không còn là vấn đề của mỗi cá nhân mà là sự hợp tác của xã hội.
Ở các vùng sản xuất nông nghiệp, nông dân sử dụng khá nhiều thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất.
Trong ảnh: Phun thuốc trừ sâu ở xã Nguyễn Huệ, Đông Triều.