Bệnh lao đã xuất hiện từ hàng ngàn năm nay. Trước đây lao là bệnh nan y, nhưng từ khi có những thuốc chữa lao hữu hiệu, bệnh đã có thể chữa lành một cách dễ dàng. Suốt những năm 70 - 80 người ta đã lơ là với công tác phòng chống lao, vì thế cuối thập kỷ 80 số người mắc bệnh và tử vong do lao tăng nhanh. Hiện nay có khoảng 1/3 dân số thế giới đã nhiễm lao, mỗi giây có thêm một người nhiễm lao mới và mỗi năm có khoảng 3 triệu người chết vì lao.
Vi khuẩn (VK) lao gây bệnh như thế nào?
VK lao có trong đờm của người bệnh. Khi ho, hắt hơi, nói chuyện... người bệnh làm bắn ra những giọt đờm hay nước bọt có chứa lao bay lơ lửng trong không khí. Hoặc khi họ khạc nhổ bừa bãi, đờm chứa VK lao sẽ khô đi hòa lẫn với cát bụi và bay vào trong không khí. Ta hít VK lao vào phổi và bị nhiễm lao. VK lao theo không khí vào tận phế nang rồi sinh sôi nảy nở và gây tổn thương ở đây. Khoảng 15-30 ngày sau khi VK xâm nhập vào cơ thể, vùng tổn thương bị hoại tử hóa mềm gọi là nhân bã đậu, đồng thời tế bào xơ xuất hiện ở vùng ngoài tổn thương và hình thành một nang lao.
Tổn thương lao có thể diễn tiến theo hai hướng
Hướng tốt: Tổn thương tiến đến xơ hóa hoặc vôi hóa. Đây là hình thức tự khỏi bệnh xảy ra sớm. Nếu tổn thương đã chuyển sang giai đoạn bã đậu hóa mềm thì chỉ có thể diễn tiến đến ổn định (trạng thái ngủ) vì mặc dù được bao bọc bởi một vỏ xơ nhưng bên trong là chất bã đậu có VK lao chưa chết.
Hướng xấu: Chất bã đậu hóa lỏng, thông với phế quản thoát ra ngoài, tổn thương trở thành hang lao. Từ giai đoạn này khả năng lây lan của bệnh này rất cao vì hang thông thương với bên ngoài bằng đường hô hấp, khi bệnh nhân nói chuyện, ho khạc... làm bắn VK lao ra ngoài. VK còn theo đường phế quản lây qua vùng phổi khác của chính người bệnh. Nếu để lâu, khả năng lây lan bệnh càng tăng: trong một năm, mỗi bệnh nhân lao không điều trị có thể làm lây bệnh cho 10 - 15 người.
Khi VK lao xâm nhập vào cơ thể, không hẳn người ta mắc lao ngay, chúng có thể sống tiềm ẩn, đợi đến lúc sức đề kháng của cơ thể suy yếu mới phát triển và gây bệnh. Việc chuyển từ nhiễm lao sang bệnh lao phụ thuộc vào hai yếu tố chính: số lượng và độc tính của VK lao, sức đề kháng của cơ thể.
Những biểu hiện của bệnh lao
Bệnh có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:
Khởi đầu từ từ: (Chiếm 80% trường hợp), với những triệu chứng: sốt nhẹ về chiều, ho (lúc đầu ho khan sau có đờm, đôi khi đờm có dính vài tia máu), đau ngực, biếng ăn, sút cân, mệt mỏi...
Khởi đầu đột ngột: (15% trường hợp), bệnh nhân sốt cao đột ngột giống như cảm cúm, ho, đau ngực, ho ra máu, mệt mỏi nhiều...
Không có dấu hiệu lâm sàng: (5% trường hợp), người bệnh vẫn khỏe mạnh, sinh hoạt bình thường, chỉ nhân một dịp kiểm tra sức khỏe mới phát hiện có bệnh.
Do tính đa dạng này mà bệnh dễ bị bỏ qua hay lầm tưởng với bệnh phổi khác. Vì thế khi có những triệu chứng trên, nhất là ho kéo dài trên 3 tuần, người bệnh hãy đi khám ngay. Nếu phát hiện và điều trị sớm, tổn thương phổi còn nhỏ, số lượng VK lao ít thì khả năng chữa lành bệnh cao, trên 95% và không để lại di chứng ảnh hưởng xấu đến sức khỏe sau này.
Thử đờm là cách tốt nhất để xác định bệnh lao phổi, khi cần bác sĩ sẽ yêu cầu chụp Xquang phổi.
Những nguyên tắc trong điều trị lao
Ngoài việc chữa khỏi bệnh, điều trị lao còn có mục đích đề phòng bệnh lao tái phát không gây ra bệnh lao kháng thuốc và ngăn chặn nguồn lây cho cộng đồng. Do đó điều trị có hiệu quả là nền tảng của công tác phòng chống bệnh lao.
Những nguyên tắc của điều trị lao là:
* Khi đã phát hiện bệnh thì phải điều trị ngay.
* Điều trị lao phải: đúng – đủ – đều.
Đúng: Nghĩa là chẩn đoán đúng bệnh, điều trị đúng phác đồ, dùng thuốc đúng cách: 1 lần trong ngày vào 1 giờ nhất định vào lúc đói.
Đủ: Đủ liều lượng, đủ thời gian quy định.
Đều: Đều đặn không bỏ một cữ thuốc nào.
Điều cần nhấn mạnh ở đây là bệnh nhân cần có nhận thức đúng đắn về bệnh lao và phải làm đúng theo những hướng dẫn của bác sĩ, nhất là không được tự ý bỏ trị nửa chừng. Trong thực tế có những bệnh nhân sau khi dùng thuốc được vài tháng thấy trong người khỏe hẳn, không còn triệu chứng bệnh nên lầm tưởng đã lành và tự động ngừng thuốc. Cảm giác khỏe này chỉ là bề ngoài nhưng bên trong VK lao vẫn còn âm thầm hoạt động. Cũng có những bệnh nhân đang dùng thuốc bị tác dụng phụ của thuốc nên hoảng sợ tự ý bỏ thuốc mà không báo cho bác sĩ biết. Việc tự ý ngưng thuốc như vậy rất nguy hại vì bệnh sẽ nặng trở lại và khi điều trị lại VK lao dễ kháng thuốc, việc chữa trị không còn hữu hiệu như trước.
Những nguyên nhân thất bại trong điều trị lao
Điều trị không đúng phương pháp:
Do thầy thuốc: Điều trị không đúng phác đồ, không đủ liều lượng, không giám sát kỹ người bệnh và không hướng dẫn cụ thể để người bệnh tuân theo.
Do bệnh nhân: Không nghe theo chỉ dẫn của bác sĩ, uống thuốc không đều, bỏ trị nửa chừng, tự chữa bệnh lấy.
Phát hiện bệnh muộn, điều trị muộn:
Phát hiện muộn có nghĩa là bệnh đã tiến triển nặng, phổi bị phá hủy nhiều, VK lao sinh sản nhiều, số lượng VK lao kháng thuốc tự nhiên do đó cũng tăng theo.
Có một số bệnh nhân tuy phát hiện bệnh sớm nhưng do nhận thức kém, vì mặc cảm, e ngại hoặc vì sinh kế... cứ chần chừ không chịu điều trị ngay để đến khi bệnh quá nặng mới đi chữa bệnh.
Lây nhiễm VK đã kháng thuốc: (kháng thuốc tiên phát)
Mặc dù người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc trị lao nhưng đã lây nhiễm từ những bệnh nhân có VK lao kháng thuốc. Nếu trong một cộng đồng có nhiều bệnh nhân lao điều trị thất bại hay có VK lao kháng thuốc thì sẽ có nhiều bệnh nhân lao mới có VK lao kháng thuốc tiên phát.
Khi điều trị thất bại không chỉ sức khỏe người bệnh suy kiệt dần và có thể đưa đến tử vong mà tai hại hơn nữa là sẽ phát sinh ra những chủng VK lao đề kháng với những thuốc đã sử dụng, còn gọi là kháng thuốc mắc phải. Khi VK lao kháng đồng thời nhiều loại thuốc chống lao trong đó ít nhất có rifampicin và isoniazid thì gọi đó là đa kháng thuốc: đây đang là nỗi lo lớn cho các nhà chuyên môn vì việc chữa trị bệnh nhân lao đa kháng thuốc phải kéo dài thời gian thường từ 18-24 tháng, tỷ lệ khỏi bệnh thấp, chỉ từ 50-60% và rất tốn kém. Gần đây lại thấy xuất hiện thể lao kháng thuốc rộng hay còn gọi là kháng thuốc cực mạnh rất nguy hiểm, đây là thể lao đa kháng thuốc đồng thời kháng với các thuốc nhóm fluoroquinolones và với 1 trong 3 loại thuốc trị lao thứ yếu dạng tiêm như: amikacin, kanamycin hoặc capreomycin. Với thể lao này tỷ lệ chữa khỏi bệnh rất thấp.
Cơ địa của người bệnh:
Những bệnh nhân có sức đề kháng suy giảm như nhiễm HIV/AIDS, đái tháo đường, suy dinh dưỡng tỷ lệ thất bại thường cao. Người nghiện rượu, người bệnh tâm thần ít khi tuân thủ những lời chỉ dẫn của bác sĩ, họ thường uống thuốc không đều hoặc bỏ trị nửa chừng. Người không dung nạp được thuốc phải thay thế bằng thuốc khác, giảm liều hoặc ngưng thuốc cũng dễ thất bại.
Đề phòng bệnh lao
Chủng ngừa: Chủng ngừa BCG cho trẻ sơ sinh và trẻ dưới 1 tuổi là biện pháp đơn giản mà hữu hiệu nhất để phòng ngừa bệnh lao. Các trẻ đã tiêm ngừa với BCG thường tránh được những thể lao nặng nguy hiểm như lao màng não, lao kê, lao cột sống là những bệnh có thể gây chết người hoặc để lại di chứng tàn tật suốt đời.
Đối với người bệnh: Cần phát hiện và điều trị sớm, đúng theo hướng dẫn của bác sĩ. Điều trị sớm là cắt đứt nguồn lây đối với người xung quanh và còn tránh được phát sinh ra chủng VK lao kháng thuốc.
Người bệnh cần ngủ riêng, dùng riêng ly tách chén, đũa, khi ho hay hắt hơi đều phải lấy tay che miệng lại, không được ôm hôn trẻ em, khạc đờm trong một cái lon có nắp đậy kín sau đó đem đổ vào cầu tiêu rồi dội thật sạch hoạc đem đốt cho kỹ rồi chôn sâu dưới đất.
Đối với người lành: Cần giữ nơi ở thoáng khí, đầy đủ ánh sáng, tránh làm việc quá sức, rèn luyện thân thể, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, khi có triệu chứng nghi lao phải đi khám bệnh ngay.