Vịnh Cửa Lục nằm giữa “trung tâm” kinh tế và du lịch trọng điểm của TP Hạ Long và huyện Hoành Bồ. Song quá trình phát triển đô thị, quy hoạch khu công nghiệp trong vùng đất thuộc Vịnh Cửa Lục đã và đang gây nên những tổn hại đối với vịnh. Từ đó cần sớm nhìn nhận để có hướng khắc phục kịp thời, tìm ra sự kết hợp hài hoà hơn để bảo tồn cảnh quan cho Vịnh.
Một góc Vịnh Cửa Lục nhìn từ cầu Bãi Cháy.
Ảnh: Đỗ Giang
Xuất xứ tên của Vịnh Cửa Lục là do có 6 con sông từ huyện Hoành Bồ cùng đổ vào, trong đó có những sông lớn như các sông Trới, Mỹ, Mằn, Thành, Diễn Vọng... nên lượng phù sa bồi lấp hàng năm vào Vịnh khá lớn: Diễn Vọng (29.000 tấn); Mằn (10.600 tấn) và Trới (20.300 tấn). Bà Đặng Thị Minh Thuỷ, Trưởng Phòng KH&CN, Sở KH&CN cho biết: Theo đề tài nghiên cứu của Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Hà Nội), đánh giá tải lượng bồi lắng và ô nhiễm môi trường nước trên lưu vực Vịnh Cửa Lục có những kết quả sau: độ xói mòn tiềm năng trung bình của toàn lưu vực là 319,7 tấn/ha/năm; tổng lượng xói mòn tiềm năng 18.510.927 tấn/năm; tổng lượng xói mòn thực tế 1.204.218 tấn/năm. Về độ xói mòn, có 2 tiểu vùng diễn ra mạnh nhất: phía Tây Bắc hơn 25,9 tấn/ha/năm; phía Đông (khu đô thị lấn biển và vùng khai khoáng) hơn 45 tấn/ha/năm. Điều này tạo ra tính đột biến trong quá trình bồi lắng xuống Vịnh Cửa Lục. Từ băng ghi hình của HĐND tỉnh năm 2005, sông Diễn Vọng đã bị đổi dòng bởi quá trình bồi lắng và hiện tượng này còn diễn biến phức tạp. Trong quá trình lấn biển để mở rộng quỹ đất đô thị và các khu công nghiệp, Vịnh Cửa Lục vốn không lớn lại bị thu hẹp hơn 2.000 ha. Từ năm 1965 đến 1990, tốc độ lắng đọng chung toàn vịnh là 2mm và từ 1990 đến nay, tốc độ này là 3mm, dẫn đến đáy vịnh đang bị đôn cao dần lên, một số nơi đã “thoát ra khỏi” mặt nước biển. Việc xây dựng và đưa 2 cầu chuyển tải clinker kéo dài trên mặt nước của 2 nhà máy xi măng Thăng Long và Hạ Long cũng có tác động xấu đến môi trường. Một số khu đô thị lấn biển phía Đông như Yết Kiêu - Sa Tô, Cao Xanh - Hà Khánh B, Hà Khánh C... trong quá trình lấn biển không xây kè bao, nên theo đánh giá của TP Hạ Long và Ban Quản lý Vịnh Hạ Long, khi thuỷ triều xuống thấp, chỉ bằng mắt thường, thấy rõ lượng đất đùn ra ngoài ranh giới quy hoạch khoảng hơn 50m. Theo Chi cục Bảo vệ môi trường, ngoài sự bồi lắng liên tục của các sông suối, những dòng chảy xuất hiện sau mỗi trận mưa bão làm gia tăng mạnh lượng đất đá xuống Vịnh, đặc biệt là phía Đông nơi có các hoạt động khai khoáng, đổ thải. Tại đây có khá nhiều khai trường của các doanh nghiệp khai thác than như Núi Béo, Hà Tu, Hà Lầm... Bãi đổ thải Chính Bắc của Công ty cổ phần Than Núi Béo - TKV với độ cao khoảng 200m nằm trong đường phân thuỷ chảy ra Vịnh Cửa Lục đã tải xuống đây một khối lượng đất, bùn khá lớn sau mỗi mùa mưa bão. Lượng nước thải từ các moong khai thác than lộ thiên và các khu dân cư, có tỷ lệ khá lớn axít làm ảnh hưởng đến nguồn nước của Cửa Lục.
Rừng ngập mặn trong Vịnh Cửa Lục bị tàn phá nặng nề. Những năm trước chúng tôi có dịp đến thăm công trình lấn biển Bắc Cửa Lục, tại khu vực bãi triều xã Lê Lợi (Hoành Bồ) rừng ngập mặn nguyên sinh bị chặt trụi chất thành đống dài, “làm xương” cho thân đê lấn biển. Tất cả các khu công nghiệp, đô thị quanh Vịnh Cửa Lục và gần đây là cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Hà Khánh của TP Hạ Long... hầu như được san lấp trên những cánh rừng ngập mặn. Có thể thấy các cửa sông đều có giá trị lớn về nguồn lợi môi trường sinh thái và phát triển đô thị, khu kinh tế và hiện tại mối xung đột này chưa được khắc phục trên địa bàn quanh Vịnh Cửa Lục. Những tồn tại trên đã và đang tác động xấu đến môi trường sống và không gian du lịch ở đây.
Để giảm thiểu bồi lắng và ô nhiễm môi trường trong Vịnh Cửa Lục, theo đề xuất của các nhà nghiên cứu (Trường Đại học Khoa học tự nhiên) thì nước thải của các cơ sở sản xuất khi đổ ra vịnh phải tuân thủ (xử lý) theo tiêu chuẩn nước mặt của Việt Nam và giảm tốc độ bồi lắng từ 2,6mm xuống 2mm/năm và giữ ổn định mức bồi lắng này. Đảm bảo diện tích che phủ của rừng ngập mặn phía Bắc Vịnh đạt 40 đến 50% và phía Đông Vịnh 30-40%, giữ nguyên diện tích rừng ngập mặn hiện có. Giảm không gian khai thác than lộ thiên mỗi năm từ 20 đến 25% công suất, tiến tới đình chỉ khai thác than ở khu vực phía Đông. Có biện pháp hạ thấp, hoàn nguyên những bãi đổ thải của ngành Than làm ảnh hưởng đến môi trường Vịnh Cửa Lục.