Bất chấp những biện pháp can thiệp của Chính phủ, giá cả vẫn tăng mạnh trong những tháng cuối năm. Nhóm hàng lương thực - thực phẩm vẫn ở mức cao. Nhiều chuyên gia cho rằng, “đây là thời điểm mà vai trò của doanh nghiệp cần được phát huy trong việc bình ổn giá”. Nhưng thực tế không như vậy!
Có lẽ đại bộ phân người dân nghèo trông mong Chính phủ giảm thuế nhập khẩu thịt bò, thịt heo, gà… chứ không cần giảm thuế nhập khẩu ô tô
Một chuyên gia kinh tế phân tích, Chính phủ chỉ giảm thuế những mặt hàng xăng dầu, mặt hàng phục vụ công nghiệp khác, chứ chưa thực sự giảm thuế nhập khẩu hàng lương thực thực phẩm liên quan trực tiếp đến đại bộ phận người dân. Có lẽ đại bộ phân người dân nghèo trông mong Chính phủ giảm thuế nhập khẩu thịt bò, thịt heo, gà… chứ không cần giảm thuế nhập khẩu ô tô.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm giá cả tăng, gây ảnh hưởng mạnh nhất đối với người tiêu dùng. Hiện nay cách đặt vấn đề của chính phủ chủ yếu tập trung vào bình ổn những mặt hàng xăng dầu, sắt thép…; những nguyên liệu đầu vào vào để thúc đẩy tăng trưởng. Trong khi đó, mặt hàng lương thực thực phẩm lại không giảm nhiều, nếu có cũng chiếm tỷ lệ rất ít.
Nhiều chuyên gia lý giải rằng, khi người dân còn chấp nhận mua hàng với mức giá như hiện tại, doanh nghiệp không “dại” phải giảm giá. Giá chỉ giảm khi người tiêu dùng không mua hàng nữa, hoặc không thể mua nổi, vì giá quá cao. Đến lúc đó, các doanh nghiệp mới nghĩ đến việc giảm giá. Đây có lẽ là lời giải thích đúng và phù hợp nhất trong bối cảnh này.
Và giá chỉ thật sự giảm, khi những nhà kinh doanh bớt đi lợi nhuận, nghĩ đến người tiêu dùng nhiều hơn. Nhưng khả năng này không thể xảy ra. Bởi đối với một số doanh nghiệp, đây cũng là cơ hội kinh doanh của họ trong bối cảnh tăng giá. Cụ thể, trong ba lần giảm giá nguyên liệu sữa trong năm nay, thực tế giá sữa trên thị trường vẫn “bình chân như vại”. Vậy giải pháp giảm thuế nhằm bình ổn giá của Nhà nước cần xem xét lại.
Hiện cơ cấu để tính “rổ giá” của Việt Nam khác những quốc gia khác. Mặt hàng lương thực, thực phẩm của ta được tính trong “rổ giá” chung lên đến hơn 40%, trong khi mặt hàng này ở các nước khác được tính ít hơn. Cùng bị tác động của trọng số lương thực thực phẩm, nhưng ở Việt Nam do cách tính như trên đã ảnh hưởng mạnh hơn và làm cho giá cả tăng cao hơn những quốc gia khác.
Mặt hàng xăng dầu cũng được tính tương tự ở Việt Nam. Những nước càng nghèo, trình độ phát triển thấp thì cơ cấu để tính rổ hàng hóa hay bị ảnh hưởng bởi những “sản phẩm thô” được tính trong "rổ giá". Đơn cử, đối với những quốc gia phát triển, mặt hàng lương thực thực phẩm không còn là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu được tính trong "rổ giá". Vì vậy khi kiểm soát và điều hành giá cả, Chính phủ cần đưa ra những giải pháp gắn với đặc thù của Việt Nam.
Có thể các doanh nghiệp đang tạo ra tâm lý khan hiếm hàng hóa giả tạo. Việc nguồn hàng cung khan hiếm giả tạo là do người dân đang bị thiếu thông tin về giá cả. Chính vì những lẽ đó, nên những nhà sản xuất, kinh doanh lợi dụng nâng giá lên. Khi là thành viên của WTO, tính minh bạch trong kinh doanh của DN càng phải được nâng cao. Cụ thể, doanh nghiệp phải thông tin rõ với người tiêu dùng, với khách hàng lý do vì sao tăng giá. Chi phí sản xuất, giá nhập khẩu, giá bán, chi phí lưu thông đều phải cụ thể, rõ ràng và minh bạch. Làm việc này không khó, quan trọng là các doanh nghiệp có muốn làm hay không. Bởi về lâu dài, việc kinh doanh của các doanh nghiệp đều phải đi theo xu hướng này.