Bước phát triển mới của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Quảng Ninh là một trong những tỉnh có sự phát triển khá nhanh ở khukinh tế trọng điểm Bắc bộ. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (NQD) những năm gần đây đang thực sự trở thành một lực lượng sản xuất huy động được nguồn vốn, lao động, trình độ quản lý quản trị kinh doanh.

Công ty Cổ phần Phát triển công nghiệp QN là một trong những doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, đa dạng. Trong ảnh: Sản xuất kính của Công ty tại TX Cẩm Phả.

Công ty Cổ phần Phát triển công nghiệp QN là một trong những doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, đa dạng. Trong ảnh: Sản xuất kính của Công ty tại TX Cẩm Phả.

Hàng năm số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tăng 25 - 30%, tính đến tháng 8-2006 số doanh nghiệp NQD của tỉnhlà 2.654 với số vốn hơn 12.913,46 tỷ đồng. Cụ thể là 685 doanh nghiệp tư nhân với số vốn 680,39 tỷ; 635 công ty cổ phần (8.203 tỷ); 1.306 Công ty TNHH 2 thành viên trở lên (3.672 tỷ); 28 công ty TNHH 1 thành viên (358 tỷ). Các doanh nghiệp NQD chiếm tỷ trọng lớn trong đầu tư với nhiều dự án quy mô như xây dựng hết các hạ tầng, thương mại, khu du lịch, đô thị, cơ sở sản xuất công nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, thương hiệu sản phẩm, đội ngũ lao động.Một số doanh nghiệp NQD đầu tư vào lĩnh vực trước đây là khu vực hoạt động của Nhà nước như giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường... Nhìn chung các doanh nghiệp NQD hoạt động đa dạng, nhanh nhạy, kinh doanh có lãi trong thời gian khá ngắn.

Tổng giá trị sản xuất của doanh nghiệp NQD ở lĩnh vực CN - TTCN, thuỷ sản, thương mại, dịch vụ có mức tăng trưởng hàng năm từ 8 - 20%. Từ kết quả sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp NQD đã có những đóng góp cao, mức nộp thuế hàng năm tăng từ 25 - 30%; năm 2005 tiền nộp ngân sách đạt 229,4 tỷ, gấp 4 lần năm 2000. Những năm gần đây kinh tế NQD đã khá năng động trong hoạt động dịch vụ. Hệ thống khách sạn, nhà hàng có quy mô ngày càng lớn đã đáp ứng được tốc độ tăng bình quân 30% lượng du khách đến tỉnh ta du lịch hàng năm. Riêng doanh thu từ du lịch tăng từ 40 - 50%, thu hút 3 vạn lao động hàng năm. Nhiều doanh nghiệp tham gia đóng góp, xây dựng các công trình văn hoá, trường học, đường giao thông nông thôn, nhà tình nghĩa và các quỹ xoá đói giảm nghèo, cung cấp học bổng cho sinh viên, tiêu biểu như Công ty Âu Lạc, Công ty liên doanh Dầu thực vật Cái Lân, Công ty Cổ phần Phát triển công nghiệp Quảng Ninh...Tuy đạt được một số kết quảđáng ghi nhận song khối doanh nghiệp trên vẫn còn những hạn chế cơ bản trong xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp và tiếp thu ứng dụng tiến bộ của KHKT và công nghệ hiện đại.

Sự phát triển của khối doanh nghiệp NQD có ý nghĩa quan trọng, tạo dựng nền móng và động lực cho nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và bền vững, nên các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã tạo thuận lợi để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Từ năm 2000 đến 2004 UBND tỉnh có 4 quyết định khuyến khích phát triển ngành nghề, thu hút lao động; khuyến khích hoạt động đầu tư. Nhờ có những quan tâm kịp thời mà số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hàng năm tăng 25 - 30%. Nhìn chung quy mô phát triển của các doanh nghiệp NQD còn nhỏ bé, số lao động bình quân tại các doanh nghiệp khoảng 20 người, với mức thu nhập bình quân 1,05 triệu đồng/tháng. Tỉnh ta đã làm được một số việc cụ thể tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp đầu tư, SXKD trong đăng ký kinh doanh, cải cách hệ thống tính và thu thuế, cải cách thủ tục hải quan. Hàng tháng Chủ tịch UBND tỉnh đều có buổi tiếp xúc với doanh nghiệp để tháo gỡ những vướng mắc. Năm 2005 có 68 doanh nghiệp tham dự gặp mặt với 74 văn bản kiến nghị liên quan đến GPMB (43%), đầu tư và ưu đãi đầu tư (22%), xâydựng cơ sở hạ tầng (15%) về thuế, lệ phí, lao động (20%). Trong năm 2006 số kiến nghị của các doanh nghiệp giảm 50% so với năm 2005 là do nhiều bức xúc khó khăn đã được giải quyết. Một số tồn đọng mà tỉnh tháo gỡ là cấp đất xây dựng cho Công ty Cổ phần Mai Linh và DNTN Kim Bảo Ngọc; giao đất và cấp quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần Đóng tàu Long Hải (TP Hạ Long) và Công ty Cổ phần Đá Tháng Mười (Yên Hưng); chỉ đạo dứt điểm việc GPMB để bàn giao quỹ đất cho Công ty TNHH Cánh Buồm Nhiệt Đới; Công ty TNHH Quang Vinh (Vân Đồn); Công ty TNHH Bình Minh (Cẩm Phả); Công ty Cổ phần Viết Bảo (Đông Triều)... Đồng thời giải quyết nhanh những kiến nghị dự án Hồ Cô Tiên của Công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Hương Lan ; cấp điện sản xuất cho Công ty Cổ phần XNK Thuỷ sản ở Móng Cái; giải quyết kiến nghị được thu mua nhựathông trên địa bàn huyện Đông Triều hỗ trợ xe ép rác cho doanh nghiệp kinh doanh môi trường đô thị ở Vân Đồn, Hoành Bồ; đào tạo và chuyển đổi nghề ở HTX nông nghiệp Bình Dương (Đông Triều).

Cùng với việc giải quyết nhanh những vướng mắc tồn đọng làm cản sự phát triển DN, các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đã có những nỗ lực cải cách hành chính một đầu mối, quy hoạch một số khu, cụm, điểm công nghiệp tạo nên hệ thống hạ tầng đảm bảo, đã góp phần thiết thực tạo những điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp NQD có sự phát triển khởi sắc, xác lập địa thế kinh tế tương xứng của công nghiệp địa phương.

Cùng chuyên mục