Kết quả sơ bộ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 (gọi tắt là TĐT năm 2009) đã xác định, tổng số dân nước ta là 85.789.573 người. Dân số tỉnh Quảng Ninh là 1.144.381 người (trong đó 558.793 nữ, 575.939 người sống ở thành thị), đứng thứ 6 trong 11 tỉnh khu vực đồng bằng sông Hồng, đứng thứ 30 trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước.
Nước ta có số dân đông thứ 3 ở Đông Nam Á và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới. Tuy những năm từ 1999-2009 là giai đoạn có tỉ lệ tăng dân số thấp nhất (bình quân 1,2% mỗi năm) so với các giai đoạn 10 năm trước và nước ta đang bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng với số người trong độ tuổi lao động tăng cao (khoảng 59,5 triệu người, chiếm 67% dân số), nhưng kết quả Tổng điều tra cũng cho thấy nước ta sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức lớn để có được cơ cấu dân số hợp lý, chất lượng dân số tốt và sự phân bố dân số phù hợp.
Trước hết đó là quy mô dân số lớn, mức sinh chưa ổn định. Với số dân đông thứ 13 trên thế giới, mỗi năm tăng bình quân khoảng 90 vạn người, cùng với đó là mật độ dân số tăng cao và tăng nhanh từ 235 người/km2 năm 2000 lên 259 người/km2 năm 2009 (gấp hơn 2 lần mật độ dân số của châu á và gấp 1,7 lần của Trung Quốc), nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc giữ qui mô dân số ổn định. Mật độ dân số ở Quảng Ninh (188 người/km2) tuy thấp hơn so với cả nước, nhưng so với khu vực và thế giới vẫn cao; đặc biệt, tình trạng di cư từ các tỉnh khác về các khu công nghiệp, khu kinh tế của tỉnh trong thời gian tới dự báo sẽ còn tăng cao, nên đây cũng là thách thức lớn đối với tỉnh.
Đồng chí Nhữ Thị Hồng Liên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh (thứ nhất, trái sang) giải đáp những băn khoăn của điều tra viên TP Hạ Long trong cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.
Phân tích kết quả tổng điều tra cho thấy, mặc dù Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế, nhưng kết quả này chưa thực sự vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều yếu tố làm tăng nhanh mức sinh trở lại. Đó là tâm lý, tập quán của người dân trong xã hội nông nghiệp, chịu ảnh hưởng sâu rộng của tư tưởng Nho giáo về việc sinh con, muốn có đông con; số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (từ 19-49 tuổi) tăng nhanh từ 21,5 triệu năm 2000 lên 25,9 triệu năm 2009. Vì thế, để đạt được mục tiêu duy trì mức sinh thấp hợp lý (1,9 con bình quân trong giai đoạn 2011-2020), đưa qui mô dân số đạt dưới 96 triệu người vào năm 2020 và sớm ổn định ở mức 110 triệu người vào giữa thế kỷ 21 của nước ta, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm rất lớn của toàn xã hội.
Tỉ số giới tính khi sinh bước vào mức cao cũng là mối lo lớn của nước ta khi thực hiện chính sách dân số giai đoạn tới. Kết quả các cuộc điều tra cho thấy, tỉ số giới tính khi sinh (được định nghĩa là số nam/100 nữ) tăng nhanh từ 107 năm 1999 lên 110 năm 2006 và bước vào mức cao là 112 năm 2008 và tiếp tục có xu hướng tăng, nhưng chúng ta chưa có biện pháp hữu hiệu để khống chế. Thêm vào đó, tình trạng phụ nữ lấy chồng nước ngoài có gia tăng, càng làm trầm trọng thêm sự mất cân bằng giới tính và để lại hậu quả khôn lường. Tỉ số giới tính khi sinh của nước ta hiện nay tương đương với của Trung Quốc năm 1989 (112 nam/100 nữ), trong khi đó mức sinh tự nhiên là từ 103- 107 nam/100 nữ. Tỉ số giới tính khi sinh tăng cao do Việt Nam là xã hội châu á, với chế độ gia tộc phụ hệ, con trai nối dõi tông đường… đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi người. Cùng với đó là chế độ an sinh chưa đảm bảo, nên con trai được coi là chỗ dựa tốt nhất về mặt tài chính, là người chăm sóc cha mẹ khi về già; nhiều công việc nặng nhọc đòi hỏi sức lao động cơ bắp của nam giới… Nhưng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tỉ số giới tính khi sinh tăng cao trong những năm qua được xác định là tình trạng lạm dụng kỹ thuật tiên tiến trong y học để lựa chọn giới tính thai nhi ngày càng phổ biến. Kết quả sơ bộ TĐT năm 2009 cho thấy, tỉ số giới tính (cần phân biệt với tỉ số giới tính khi sinh) của cả nước năm 2009 là 98,1 nam/100 nữ. Quảng Ninh là tỉnh đứng đầu danh sách 63 tỉnh, thành phố trong cả nước về mất cân bằng giới tính, với tỉ lệ giới tính là 104,8 nam/100 nữ. Điều này cũng do yêu cầu của ngành công nghiệp khai khoáng đòi hỏi sức mạnh cơ bắp, nên số người di cư về tỉnh phần lớn là nam giới. Thực trạng mất cân bằng giới tính hiện nay và trong những năm tới của tỉnh và cả nước đòi hỏi toàn xã hội phải tích cực vào cuộc để chúng ta không phải chịu hậu quả nặng nề.
Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi thay đổi mạnh từng giai đoạn cũng gây nhiều khó khăn cho phát triển KT-XH. Kết quả các cuộc điều tra cho thấy: Số trẻ trong nhóm tuổi giáo dục mầm non (0-5 tuổi) đạt mức cực đại là 10,7 triệu người vào năm 1990, giảm xuống cực tiểu là 8,7 triệu người vào năm 2005, rồi lại tăng lên 9,5 triệu người hiện nay. Với các nhóm tuổi khác cũng vậy, nên đã gây khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ KT-XH, nhất là trong sự nghiệp y tế và giáo dục. Như với ngành Giáo dục, trong giai đoạn 1991-2000, các địa phương hàng năm phải đầu tư nhiều trường lớp, đào tạo nhiều giáo viên tiểu học; nhưng sang giai đoạn 2001-2010 thì phải thực hiện ngược lại, nên đã gây lãng phí lớn về nhiều mặt. Sự thay đổi mạnh về cơ cấu dân số theo nhóm tuổi đòi hỏi chúng ta phải thực hiện phát triển KT-XH, phát triển ngành, lĩnh vực thích ứng với sự chuyển đổi về nhân khẩu học.
Kết quả sơ bộ TĐT năm 2009 cũng cho thấy, nước ta đã kết thúc giai đoạn cơ cấu dân số trẻ, bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng, chuẩn bị chuyển sang giai đoạn cơ cấu dân số già. Hiện chúng ta có lợi thế lớn về nguồn lao động với khoảng 59,5 triệu người (67% dân số). Nhưng mặt khác, chúng ta cũng sẽ chịu thách thức gay gắt đối với vấn đề giải quyết việc làm, thất nghiệp và sử dụng lao động hiệu quả. Nếu vượt qua được các thách thức trên, nước ta mới phát triển tốt khi bước sang giai đoạn cơ cấu dân số già.
Để có được cơ cấu dân số hợp lý, chất lượng dân số tốt và sự phân bố dân số phù hợp, đáp ứng tốt sự phát triển KT-XH, đòi hỏi sự vào cuộc của toàn xã hội, của từng người.