Ngày 23-1, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 131 về hỗ trợ lãi suất (HTLS) cho vay các tổ chức, cá nhân, sau khi Quyết định 131 ra đời Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam đã có Thông tư 02 hướng dẫn triển khai thực hiện. Cơ chế hỗ trợ lãi suất này đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của toàn xã hội.
Khách hàng làm thủ tục vay vốn tại Agribank Quảng Ninh.
Theo báo cáo của Chi nhánh NHNN, đến ngày 31-3, các ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh đã giải ngân 2.112 tỷ đồng cho 1.676 khách hàng thuộc đối tượng được HTLS vay, trong đó: Khách hàng doanh nghiệp 536; hộ gia đình và cá nhân 1.137; HTX và tổ chức khác 3. Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) Quảng Ninh đã giải ngân gần 471 tỷ đồng với 1.462 hồ sơ vay được giải quyết (trong đó có 148 hồ sơ của doanh nghiệp, số còn lại là hộ gia đình và cá nhân).
Ông Phạm Tất Đạt,Trưởng phòng Tín dụng Agribank Quảng Ninh cho biết: Ngay sau khi có Quyết định 131 và Thông tư 02, Agribank Quảng Ninh đã tổ chức hội nghị triển khai đến các chi nhánh và khách hàng; phổ biến công khai, minh bạch cơ chế HTLS, nhất là đối tượng thụ hưởng, thủ tục và quy trình thực hiện, đồng thời bố trí đủ vốn cho chương trình tín dụng kích cầu. Đối với Agribank, đối tượng cho vay HTLS chủ yếu là hộ nông dân, hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ. Tuy món vay nhỏ nhưng số lượng nhiều nên phát sinh nhiều công việc, nhân viên tín dụng phải kiểm tra, rà soát kỹ lưỡng để tránh cho vay không đúng đối tượng, không đúng mục đích. Để đáp ứng việc theo dõi số tiền giải ngân trong ngày, Agribank đã xây dựng riêng một chương trình theo dõi tiến độ giải ngân - thu nợ nhằm cập nhật kịp thời các số liệu về dư nợ, doanh số cho vay, thu nợ của từng khách hàng, từng chi nhánh. Do đó Ngân hàng có thể quản lý chính xác số lãi suất được cấp bù đến từng ngày và phát hiện sớm hiện tượng đảo nợ. Theo quy định hiện nay thì các ngân hàng thương mại đang áp dụng lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân phổ biến ở mức 10%/năm. Nếu doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân thuộc đối tượng được HTLS vay theo Quyết định 131 của Thủ tướng Chính phủ chỉ phải trả lãi suất vay vốn ngân hàng là 6%/năm, 4% còn lại là phần được hỗ trợ lãi suất do Nhà nước cấp bù. Nhiều hộ gia đình và cá nhân nhờ được vay vốn theo cơ chế này đã bước đầu ổn định sản xuất. Điển hình như các hộ gia đình anh Đinh Hữu Quyết, thôn 10; chị Lê Thị Xuân, thôn 4, xã Quảng Chính (Hải Hà) được vay 30 triệu đồng/hộ từ chương trình HTLS vay của Chính phủ để mua con giống và thức ăn chăn nuôi. ở thị trấn Đầm Hà, huyện Đầm Hà một số hộ gia đình kinh doanh hàng tạp hoá, hàng điện tử cần vốn lưu động đã được Agribank cho vay tới 200 triệu đồng/hộ để duy trì hoạt động kinh doanh, góp phần giải quyết việc làm cho hàng chục lao động tại địa phương.
Tuy là ngân hàng có số tiền và lượng khách hàng được HTLS nhiều nhất trên địa bàn tỉnh nhưng so với 24.000 hộ gia đình và cá nhân đang có dư nợ tại Agribank Quảng Ninh thì con số 826 hộ đủ điều kiện cho vay HTLS quả là quá khiêm tốn. Qua tìm hiểu được biết rất nhiều doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng được HTLS nhưng do thủ tục giấy tờ quy định chặt chẽ, gây khó khăn cho cả phía ngân hàng lẫn người đi vay. Bên cạnh đó, do thói quen của các hộ gia đình là khi mua vật tư phục vụ sản xuất và bán sản phẩm làm ra đều không sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của Bộ Tài chính nên khi cần hoá đơn, chứng từ để chứng minh mục đích sử dụng vốn vay thì hầu hết các hộ lại không có, do vậy không đủ điều kiện để ngân hàng cho vay...
Để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trên, ngày 2-4-2009, NHNN Việt Nam đã ban hành văn bản số 2244 “Bổ sung và hướng dẫn thêm một số điểm về cơ chế hỗ trợ lãi suất” với những nội dung như: Đối với hộ nông dân vay vốn từng lần thì ngân hàng lập giấy xác nhận hỗ trợ lãi suất một lần khi hết thời hạn vay được HTLS; nếu vay theo hạn mức tín dụng thì lập giấy xác nhận HTLS vào tháng cuối từng quý. Đối với hộ nông dân vay vốn sản xuất kinh doanh, giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn vay để được hưởng hỗ trợ chính là biên bản kiểm tra việc sử dụng vốn vay, có xác nhận của bên vay và ngân hàng thương mại; trong đó, xác định cụ thể những chi phí sản xuất - kinh doanh phù hợp với giá trị tài sản thực tế được hình thành từ vốn vay; thời điểm lập biên bản do NHTM quy định phù hợp với quy trình kiểm tra, giám sát vốn vay do NHTM ban hành. Đối với tổ chức sử dụng vốn hỗ trợ thanh toán tiền hàng cho hộ cá thể thì ngân hàng sử dụng phiếu hoặc bảng kê mua (nhập) hàng hoá có xác nhận của bên mua và bên bán. Với những hướng dẫn thêm về cơ chế hỗ trợ lãi suất này chắc chắn nhiều hộ gia đình, cá nhân sẽ sớm được tiếp cận nguồn vốn giá rẻ (lãi suất thấp) để phát triển sản xuất, kinh doanh, vượt qua khó khăn trong tình hình suy giảm kinh tế hiện nay.