Cách làm của Đồn BP số 19

Thực hiện chủ trương của Đảng uỷ Bộ Tư lệnh BĐBP Việt Nam, từ năm 1999 đến nay, Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã điều động 37 lượt cán bộ tăng cường phát triển kinh tế - xã hội cho các xã, phường biên giới, hải đảo của tỉnh.

Những cán bộ tăng cường này đã trực tiếp cùng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở địa phương tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, xây dựng khu vực biên giới, hải đảo của tỉnh ngày càng vững mạnh.

Cán bộ tăng cường xã của Đồn BP số 23 thường xuyên bám sát địa bàn để nắm tình hình.

Cán bộ tăng cường xã của Đồn BP số 23 thường xuyên bám sát địa bàn để nắm tình hình.

Những năm gần đây, Đồn BP số 19 không chỉ làm tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới trên địa bàn huyện Hải Hà, mà còn tăng cường cán bộ xuống các xã biên phòng tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương và vận động đồng bào dân tộc chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng phát triển kinh tế, cải thiện đời sống một cách hiệu quả. Như ở xã Quảng Đức, bằng tình cảm, trách nhiệm của mình đối với đồng bào, từ năm 2000, Trung tá Lê Văn Thể, cán bộ tăng cường xã của đơn vị đã có nhiều đóng góp tích cực vào sự phát triển của địa phương. Xã biên giới, miền núi Quảng Đức có trên 98% hộ dân là người dân tộc Dao, trình độ dân trí thấp, sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, canh tác lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào thời tiết do chưa có hệ thống mương máng dẫn nước... Trong khi đó trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn địa phương còn hạn chế... Từ những khó khăn trên, nên khi ban đầu được cấp trên giao làm nhiệm vụ trực tiếp tham gia công tác tại địa phương, Trung tá Lê Văn Thể không khỏi lo lắng, vì bản thân chưa có kiến thức về quản lý nhà nước, lại bất đồng về ngôn ngữ... Nhưng được sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo xã và cấp uỷ, chỉ huy Đơn vị, anh đã xác định tốt trách nhiệm của mình gắn bó với địa phương và đồng bào dân tộc, từng bước tập trung vào việc phát huy vai trò tham mưu vận động đồng bào dân tộc chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng phát triển kinh tế cải thiện đời sống. Việc đầu tiên khi về địa phương là anh đã đề xuất cùng cán bộ chi hội nông dân xã và đội công tác vận động quần chúng của Đồn tiến hành điều tra khảo sát nắm tình hình, đánh giá thực trạng tình hình sản xuất, đời sống, cách nghĩ, cách làm của nhân dân trong xã. Qua đó anh nhận thấy, đất ở Quảng Đức rất tốt, nhưng người nông dân chỉ cấy 1 vụ bằng giống lúa cũ ở địa phương, nên năng suất rất thấp. Vốn xuất thân từ gia đình làm ruộng ở vùng quê đất lúa xã Kim Sơn, huyện Đông Triều, từ nhỏ đã quen với việc đồng áng, nên anh đã mạnh dạn đề xuất với cấp uỷ, chỉ huy Đồn và lãnh đạo địa phương cần phải chuyển đổi sang giống lúa mới. Được sự đồng tình ủng hộ, Trung tá Thể đã xin phép đơn vị về Phòng Nông - Lâm nghiệp huyện Đông Triều mua một số giống lúa mới như: Khang Dân, Bồi Tạp 49 về cho nông dân xã trồng cấy, kết hợp hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, cải tạo hệ thống mương máng tưới tiêu. Lúc đầu phần lớn người dân trong xã chưa tin vào hiệu quả của giống lúa mới, nên không muốn chuyển đổi. Anh đã cùng lãnh đạo địa phương, cán bộ hội viên Chi hội Nông dân và cán bộ Đội công tác vận động quần chúng của đơn vị xuống từng hộ gia đình kiên trì vận động, trực tiếp xuống đồng hướng dẫn nông dân cách trồng cấy, chăm sóc giống lúa mới. Kết quả vụ đầu tiên năm 2000, giống lúa mới cho năng suất 59,9 tạ/ha (đến nay đạt 75 tạ/ha). Hiện tại những giống lúa mới đã trở nên quen thuộc với đồng bào vùng cao biên giới Quảng Đức.

Cũng qua quá trình công tác tại địa phương, qua nghiên cứu vùng đất và tham khảo các tài liệu khoa học, Trung tá Lê Văn Thể nhận thấy chất đất ở đây phù hợp với giống ngô lai. Anh đã đưa ra Đảng uỷ xã họp bàn và được đồng ý chuyển đổi giống ngô lai mới. Anh cùng cán bộ của xã mạnh dạn vận động bà con thay thế, áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, chăm bón, nhờ vậy năng suất sản lượng của ngô lai càng tăng, nhân dân rất phấn khởi tận dụng đất đai trồng ngô tăng sản. Hàng ngày xuống bản anh thấy bà con dân tộc đều chăn nuôi gà, lợn thả rông, hiệu quả rất thấp, có gia đình nuôi lợn trên 2 năm, mà đạt trọng lượng 40-50kg/con. Lại một lần nữa Trung tá Thể đề xuất với Chi hội Nông dân địa phương đến từng nhà để vận động bà con làm chuồng chăn nuôi lợn, gà tăng trọng, không thả rông như trước nữa. Một số gia đình chăn nuôi theo cách mới có hiệu quả, dần dần các hộ khác làm theo. Anh còn hướng dẫn bà con cách nuôi ngan, ngỗng, vịt đẻ, khoanh suối nuôi cá nước ngọt v.v.. Nhờ chuyển đổi được giống, vật nuôi, cây trồng đời sống kinh tế gia đình các hộ dân trong xã khá hẳn lên, nhiều hộ đã thoát nghèo, mua được ti vi, xe máy... Khi đời sống được nâng lên, thì các tệ nạn xã hội, phong tục tập quán lạc hậu trong xã cũng dần được đẩy lùi, an ninh trật tự trên địa bàn và khu vực biên giới ngày càng được củng cố... Với những đóng góp tích cực, Trung tá Lê Văn Thể đã được tín nhiệm bầu vào HĐND xã 2 nhiệm kỳ, liên tục từ năm 2000 đến 2008 là bí thư chi bộ của 6 bản giáp biên. Cuối năm 2006 tại hội nghị  tổng kết 10 năm chương trình phối hợp giữa BĐBP với Hội Nông dân Việt Nam, anh đã được Hội Nông dân Việt Nam tặng bằng khen.

Cùng chuyên mục