Người ta làm đường làng, đổ bê tông vĩnh cửu. Khi mở rộng cống thoát nước, bỗng chạm lớp gạch cổ - đây chính là chỗ cổng làng ngày xưa.
Thời Pháp phá làng, lập vành đai trắng, cùng với rất nhiều nhà, cây cối, cổng làng cũng bị san bằng, nhưng móng cổng vẫn nằm sâu trong đất. Cái cổng ngày xưa xây cuốn vòm, trên là vọng lâu, đêm đêm tuần đinh canh gác phòng trộm cướp. Phía dưới là hai cánh gỗ lim dày, nặng trịch, được mở ra mỗi sớm mai, đóng lại lúc chiều tà. Tôi hay theo bố ra đóng cổng làng.
Hàng ngày lũ trẻ chúng tôi hay tha thẩn chơi ở đấy, chờ mẹ đi chợ về; con trai thì đánh đáo, đánh bi, con gái chơi đánh chắt, đánh chuyền... Trong cái cánh bên phải hay bị kẹt, mở dở chừng lại là chỗ chơi trốn tìm, chơi ú tim ẩn nấp...
Cũng trong cái cánh cổng mở nửa chừng ấy, hồi nạn đói năm Ất Dậu, chị X. đã nằm. Chị rất đẹp, tươi, hiền, chịu làm, quý chúng tôi lắm, còn dạy đánh chuyền, tay tung tay bắt. Nhà chị lâm nạn đói, người chết, người phiêu bạt. Nhà đã bán, chị ra cổng nằm, gầy trơ xương, quần áo tơi tả, da thịt lộ ra đen tím như con cá trê chết phơi nắng. Khổ, năm ấy lại quá rét, cái cổng đúng hướng bấc gió lùa, duy cái cánh làm thành góc khuất. Vậy mà cái cổng, cái cánh gỗ lim dày cũng không giúp được chị. Chị lịm dần và chết. Người ta bó chiếu đem chôn. Có người chết chả có chiếu. Người đói các nơi dạt về chợ làng, chôn chả kịp. Có lúc bố tôi, chú tôi phải buộc dây thừng kéo đi chôn...
Người chết lúc ấy có ai có nhang khói gì. Chị cũng vậy, chả ai nhang khói, cầu hồn. Tôi đứng như ngây trông theo chị, toan đi theo, anh tôi giữ lại. Người con gái trẻ, bao nhiêu người yêu quý ra đi như thế...
Cái cổng làng từ đấy lạnh lẽo, hoang vắng, trẻ con chúng tôi đi qua cứ nen nét sợ như chị còn nằm đấy. Hình như vong hồn chị còn đấy hay sao, đến giờ đi qua tôi vẫn rờn rợn...
...Tiếng choòng sắt từ những cánh tay lực lưỡng đâm xuống choang choang, toé lửa, nơi cổng làng, nơi chị X. nằm ngày xưa. Người ta vẫn bảo: người chết không được cầu hồn thì muôn đời vong linh vẫn cứ luẩn quất đâu đấy không siêu thoát. Mỗi lần nhát choòng đâm xuống tôi như nhốt lên, vội cúi mặt quay đi. Những nhát đâm nhói vào chỗ chị nằm và cả khối di vật duy nhất cổ xưa của làng còn lại...
Nhà lầu về làng càng nhiều, đường sá rộng dài ra, bê tông phẳng lì. Những dấu xưa cũ mỗi năm một nhạt nhòa, tre pheo vắng bóng, thay vào là các bờ tường gạch bao kín các ô vườn. Trưa hè cái nóng bốc lên như rang ngô. Khu nhà như những giang sơn cách biệt, nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Cái móng cổng làng, nơi chị nằm ngày xưa chìm sâu nay bị xới lên, dọn đi...
Những thợ làm đường toàn người làng, tất cả đều trẻ tuổi, chẳng ai biết, ai nhớ, ai nhắc chỗ ấy ngày trước là cổng làng... và chị X. chả ai biết, ai nhớ. Đường bê tông rộng ra, chỗ nào cũng giống chỗ nào. Tôi cũng chả biết chắc chỗ nào là chỗ ngày xưa chị nằm. Khi đi qua cứ ngài ngại bước chân, sợ dẫm lên chỗ chị nằm, chỗ có vong linh chị...