Căn cứ kháng chiến Lương Mông - Di tích lịch sử cần được bảo vệ, tôn tạo

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, xã Lương Mông và một số địa điểm của xã Minh Cầm (Ba Chẽ) là khu căn cứ kháng chiến của tỉnh Hải Ninh cũ. Lương Mông có địa thế hiểm trở, rừng rậm, núi cao, suối sâu. Vào Lương Mông chỉ có con đường độc đạo rất khó đi. Chính vị trí rất tốt về mặt chiến lược ấy nên ngay từ những ngày đầu, tỉnh Hải Ninh đã xác định lấy nơi đây làm căn cứ kháng chiến.

Từ tháng 9-1947, bộ đội cảnh vệ và các lực lượng kháng chiến Hải Chi (huyện Ba Chẽ ngày nay) đã về Lương Mông gây dựng cơ sở, lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp. Cuối năm 1948, đội du kích xã Lương Mông được thành lập, tổ chức diệt tề, trừ gian, giải tán các tổ chức phản động do địch lập ra. Cuối năm 1948, tất cả các cơ quan chuyên môn của Tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Hải Ninh về xây dựng căn cứ ở Hải Chi, trụ sở đóng tại Khe Lao, xã Lương Mông.

Trong niềm vui mới, nhân dân Lương Mông nô nức góp công, góp sức dựng nhà, làm kho, bắc cầu, mở đường, vận chuyển lương thực, vũ khí... để xây dựng căn cứ. Tại Lương Mông và khu vực lân cận, tất cả ruộng đất hoang hoá và ruộng đất công đều được chia cho nhân dân cày cấy. Các cơ quan tỉnh, huyện cũng đẩy mạnh tăng gia sản xuất vừa để tự túc, vừa gây quỹ kháng chiến. Tại căn cứ Lương Mông, Tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính Hải Ninh đã tổ chức nhiều cuộc họp quan trọng. Điển hình như Hội nghị cán bộ học tập Nghị quyết Trung ương Đảng về “Tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công”, Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ II tỉnh Hải Ninh, với gần 400 đại biểu các đảng bộ trực thuộc về dự... Cuối năm 1949, tại căn cứ Lương Mông, một không khí thi đua đẩy mạnh nhiều mặt công tác được dấy lên mạnh mẽ. Tại thôn Mỏ Nước, chi bộ 2, xã Lương Mông và Minh Cầm tổ chức một cuộc mít tinh với gần 200 người tham gia. Đầu năm 1950, ta đẩy mạnh hoạt động quân sự, nhằm tiêu hao sinh lực địch và mở rộng vùng tự do. Quân ta phá một ca nô địch ở Đầm Buôn (Đầm Hà); phục kích địch trên sông Ba Chẽ, tiêu diệt 15 tên, thu 4 tấn gạo cùng nhiều quân trang, vũ khí; bao vây bức địch rút khỏi đồn Coóc Lỳ; quân dân xã Nam Sơn và bộ đội địa phương phục kích lật đổ 4 xe cam-nhông địch, diệt toàn bộ quân địch trên xe, thu hàng chục súng các loại... Sau các đợt tấn công này, địch đã tìm cách phản công. Trung tuần tháng 4, Pháp mở cuộc hành quân Pác - Panh huy động 1.200 quân Pháp và lê dương đánh vào vùng căn cứ và vùng tự do của ta. Nhân dân Lương Mông cùng các lực lượng bộ đội, du kích phối hợp đánh trả địch. Quân địch bị chặn khắp nơi và rơi vào tình thế bị động. Cùng với sự thiếu hụt lương thực và tinh thần hoang mang của quân lính, ngày 21-4-1950, địch phải tính kế rút lui, kết thúc sớm cuộc càn quét của chúng. Với chiến thắng Lương Mông, ta đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 100 tên địch, thu nhiều quân trang, đồng thời bảo toàn lực lượng và cơ quan kháng chiến Hải Ninh...

Lương Mông, với những địa danh như Khe Lao, Khe Phùng, Khe Lào, Mô Chè... giờ đã trở thành những di tích lịch sử cách mạng. Địa giới khu di tích được xác định từ thôn Đồng Cầu trở vào. Địa điểm đầu tiên của căn cứ là chợ Lo Cặp, nơi Ban Kinh tế huyện Hải Chi thường mang cày, cuốc và các mặt hàng phục vụ sản xuất về bán cho bà con. Khe Phùng là nơi bộ đội Trung đoàn 98 đóng quân, hiện còn dấu vết một nền nhà. Khe Lao là khu vực đứng chân của Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính, Ty Công an, Ty Y tế, Ty Ngân khố, Ty Giao thông, Ty Bưu điện, Thanh niên, Phụ nữ tỉnh. ở đây còn lại dấu tích một số nền nhà và những đoạn giao thông hào.

Trải qua thời gian, hiện vật của Khu căn cứ cách mạng Lương Mông không còn gì nhiều; Bảo tàng tỉnh cũng chỉ còn lưu giữ một số công văn, báo cáo văn bản và tài liệu kháng chiến, một số các con dấu của Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính và các cơ quan chuyên môn Hải Ninh được phát hành tại căn cứ Lương Mông.

Căn cứ cách mạng Lương Mông là bằng chứng sinh động thể hiện tinh thần vượt mọi khó khăn gian khổ của quân dân ta để trường kỳ kháng chiến. Tuy Tỉnh uỷ, Uỷ ban kháng chiến hành chính và các cơ quan chuyên môn Hải Ninh chỉ đóng quân ở nơi đây hơn 2 năm, song những gì đã diễn ra tại khu căn cứ này mang một ý nghĩa quan trọng, là bài học sâu sắc về công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, dân vận, bài học về tinh thần yêu nước, tinh thần cách mạng tiến công, đặc biệt là bài học giáo dục truyền thống cho thế hệ mai sau... Chính bởi vậy, Khu căn cứ kháng chiến này cần được bảo vệ, tôn tạo.