Cần cụ thể hơn nữa để tăng cường hiệu quả quản lý

Quảng Ninh được đánh giá là tỉnh giàu tiềm năng khoáng sản với số lượng 209 mỏ và điểm quặng của 36 loại khoáng sản có giá trị khai thác là than đá, đá vôi, sét xi măng, các loại đá xây dựng, kaolin-pyrophilit, cát thuỷ tinh.

Trong đó ở thời điểm hiện tại khoáng sản than đang chiếm giữ vai trò chủ đạo với sản lượng khai thác trong năm 2009 và 3 tháng đầu năm 2010 đạt khoảng 45 triệu tấn. Tuy nhiên, để đảm bảo kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường, đảm bảo phát triển bền vững, hiện tại trên địa bàn, tỉnh đã quy định 7 vùng và khu vực cấm, khu vực hạn chế hoạt động khai thác khoáng sản.

Cần cụ thể hơn nữa để tăng cường hiệu quả quản lý ảnh 1
Lực lượng chức năng phường Cao Thắng (TP Hạ Long) đang thăm dò đường lò để triệt phá lò than trái phép trên địa bàn.

Thực hiện Quyết định số 20/2003/QĐ-TTg (ngày 29-1-2003) của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Than  giai đoạn 2003-2010 có xét triển vọng đến 2020, tỉnh cùng với TKV xây dựng quy hoạch thăm dò, khai thác chế biến và sử dụng khoáng sản đến năm 2010, tầm nhìn 2020 trình Chính phủ phê duyệt. Đồng thời, xây dựng quy định công tác hoàn nguyên môi trường và đóng cửa mỏ khoáng sản rắn; đề án quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản. Đặc biệt, trên quan điểm kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên môi trường, đảm bảo phát triển bền vững, tỉnh đã cùng với ngành Than khoanh định 7 vùng và khu vực cấm, khu vực hạn chế hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn và được Chính phủ phê chuẩn tại Văn bản số 491. Trong đó, khu vực cấm bao gồm các hồ chứa nước phía Bắc huyện Đông Triều với diện tích 5,1km2; các hồ chứa nước phía Đông huyện Đông Triều, diện tích 7,4km2; khu di tích Yên Tử 29,2km2; Hồ Yên Lập (Yên Hưng) 165,9km2; Hồ Đồng Ho (Hoành Bồ) 94,9km2; Hồ Cao Vân (Cẩm Phả) 60,5km2; Khu vực Nhà máy nước Diễn Vọng 4km2. Bên cạnh đó, có 4 khu vực khai thác bị hạn chế về phương pháp khai thác (không khai thác lộ thiên), hạn chế công suất khai thác, quy mô và phải có biện pháp bảo vệ môi trường nghiêm ngặt. Đó là, các hồ chứa nước phía Bắc huyện Đông Triều với diện tích 120km2; các hồ chứa nước phía Đông huyện Đông Triều 31,3km2; khu vực mỏ than Đồng Vông (Hoành Bồ) 26,1km2 và khu vực mỏ than Quảng La (Hoành Bồ) với diện tích trên 18km2.

Từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2008 do nhu cầu than tăng cao, chênh lệch giữa giá bán than trong nước và giá than xuất khẩu lớn làm cho tình hình khai thác, chế biến, vận chuyển, buôn bán, xuất khẩu than trái phép diễn biến phức tạp, có nguy có ảnh hưởng đến khu vực cấm, hạn chế cấm hoạt động khai thác than. Trước thực trạng này, vấn đề bảo vệ vùng cấm và vùng hạn chế hoạt động khoáng sản than càng được tỉnh và ngành Than xiết chặt. Tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra đối với mọi hoạt động trong phạm vi khu vực cấm khai thác và hạn chế khai thác khoáng sản than, đồng thời xử lý ngay đối với các trường hợp có dấu hiệu vi phạm. Mặt khác tích cực phát hiện, xử lý vi phạm trong lĩnh vực khai thác, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ than trái phép trên địa bàn. Triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý duy trì trật tự; giải tỏa bến bãi chế biến, tiêu thụ than trái phép và quy hoạch đường vận chuyển, cảng bến xuất than. Cải tạo phục hồi môi trường các khu vực khai thác lộ thiên, lộ vỉa. 

Sau đợt cao điểm về xử lý khai thác, vận chuyển, buôn bán than trái phép năm 2008, UBND tỉnh đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát ranh giới mỏ than và cấp 64 giấy phép khai thác than cho các đơn vị thuộc Tập đoàn TKV. Cùng với việc chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 11/CT-TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác quản lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ than trên địa bàn, chỉ tính riêng năm 2009, tỉnh đã ban hành 13 văn bản chỉ đạo các ngành và 5 địa phương có hoạt động sản xuất than (2 huyện Đông Triều, Hoành Bồ; 2 TX Uông Bí, Cẩm Phả và TP Hạ Long) tăng cường công tác kiểm tra phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm trong việc khai thác, tiêu thụ than. Tỉnh cũng đã lập nhiều đoàn đi kiểm tra các khu vực có điểm nóng dễ xảy ra nguy cơ khai thác than trái phép và phối hợp với các đơn vị thành viên của TKV tăng cường lực lượng tuần tra, kiểm soát nhằm ngăn chặn, xử lý kịp thời. Theo đó đã phát hiện tại vỉa 8 cánh nam của Công ty Than Mạo Khê có một phần diện tích đang khai thác nằm trong vùng cấm hoạt động khai thác thuộc khu vực hồ chứa nước phía đông huyện Đông Triều và đã yêu cầu Công ty này dừng hoạt động khai thác ngay trong năm 2008. Hiện tại, các vùng cấm hoạt động và hạn chế hoạt động khai thác khoáng sản than trên địa bàn tỉnh vẫn đang được các cơ quan chức năng của tỉnh và TKV thực hiện triển khai tốt công tác bảo vệ.

Tuy nhiên, theo nhận định của các cơ quan chức năng việc khoanh định khu vực cấm, hạn chế hoạt động khoáng sản vẫn chưa được cụ thể hoá trên cơ sở cân đối các mục tiêu, lợi ích giữa khai thác khoáng sản phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội với các lợi ích, mục tiêu của các đối tượng cần bảo vệ; chưa phân ra các đối tượng cần bảo vệ tuyệt đối, các đối tượng cần bảo vệ theo thời gian. Trong khi đó, các điều kiện này đã được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật Khoáng sản và tại Nghị định 160 ngày 25-12-2005 của Thủ tướng Chính phủ.

Để hoạt động khai thác than phát triển bền vững và đảm bảo tốt về các điều kiện đối với khu vực cấm và hạn chế hoạt động khoáng sản, theo đồng chí Cao Văn Chiến, Trưởng phòng Tài nguyên Khoáng sản (Sở Tài nguyên và Môi trường) trước mắt cần tăng cường hơn nữa đối với công tác phối hợp, kiểm tra trong quá trình cấp phép hoạt động. Cần thực hiện rà soát kỹ từ công tác quy hoạch, lập dự án đến quá trình hoạt động của các đơn vị ngành than. ở tầm nhìn xa hơn, tỉnh đã có kế hoạch thực hiện quy hoạch đối với khu vực tạm thời cấm hoạt động khai thác than và đề nghị Chính phủ, các Bộ, ngành sớm phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 làm cơ sở cho công tác quản lý.

Cùng chuyên mục