Ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP): “Chúng ta cũng cần phải có chiến lược để nhóm doanh nghiệp ngành hàng chúng ta phối hợp với các Tập đoàn lớn của thế giới”.
Trong các thị trường nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam, Nhật Bản tiếp tục là thị trường lớn nhất, tiếp đến là Mỹ, Trung Quốc, EU và một số thị trường khác như Nga và các nước Đông Âu. Việt Nam đang được xếp vị trí thứ 7 về xuất khẩu thuỷ sản trên thế giới. Một điều đáng mừng là mặc dù phải đối mặt với những biến động lớn như vụ kiện chống bán phá giá cá tra, cá ba sa tại Mỹ, nhưng nhìn tổng thể xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong những năm qua vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng. Để đương đầu được những thách thức tiếp theo trong quá trình hội nhập, các doanh nghiệp trong ngành cần phải làm nhiều việc, như trang bị đầy đủ các kiến thức về thông lệ, luật pháp quốc tế, rõ ràng và minh bạch về chất lượng sản phẩm. Đặc biệt là phải tập trung củng cố nguồn nguyên liệu xuất khẩu, nhất là khả năng truy xuất nguồn gốc, các chứng chỉ kiểm soát quá trình không chỉ trong chế biến mà những giai đoạn sản xuất sản phẩm trước đó. Bên cạnh đó, muốn hạn chế rủi ro trên thị trường thế giới, doanh nghiệp cũng cần cập nhật thông tin liên quan đến tiêu chuẩn, hệ thống chứng nhận chất lượng ở các thị trường để theo kịp yêu cầu của các nhà nhập khẩu nước ngoài. Phóng viên VOV phỏng vấn Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam (VASEP).
PV: Thưa ông, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, theo nhiều chuyên gia kinh tế, áp lực cạnh tranh với nhiều nhóm hàng của Việt Nam rất lớn, riêng đối với nhóm hàng thuỷ sản, ông đánh giá thế nào?
Ông Nguyễn Hữu Dũng: Tôi nghĩ chúng ta gia nhập WTO là một sự công nhận về mặt thể chế là chúng ta gia nhập sân chơi chung, có nghĩa là chúng ta phải chấp nhận luật chơi chung và phải chơi bằng chính sức mình, đó là thách thức rất lớn nhưng đồng thời đó cũng là cơ hội. Về phía các doanh nghiệp thuỷ sản, thực ra ngay những năm đầu phát triển xuất khẩu, các doanh nghiệp đã tiến ra thị trường nước ngoài, thị trường các nước phát triển. Chính vì thế, tôi nghĩ rằng, cạnh tranh lúc này không phải là vấn đề lớn lắm, nghĩa là cạnh tranh sau WTO không phải hoàn toàn là vấn đề mới đối với các doanh nghiệp thuỷ sản, tuy nhiên với các doanh nghiệp trong ngành, một trong những khó khăn đó chính là làm sao nhận thức được cơ hội trong thách thức lớn đó. Chính vì thế bài toán lớn nhất là làm sao khai thác cơ hội đó.Cụ thể trước khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đã phải đương đầu với những thách thức lớn của thị trường, những rào cản về thương mại, rào cản kỹ thuật, về bán phá giá… và đã vượt qua những thách thức đó bằng nhiều cách khác nhau để phát triển. Tôi nghĩ, quan trọng là các doanh nghiệp phải có sự chuẩn bị kỹ càng hơn trong quá trình hội nhập.
PV: Từ thực tế của ngành thủy sản, theo ông, hiện nay các doanh nghiệp thuỷ sản yếu nhất là gì?
Ông Nguyễn Hữu Dũng: Điểm yếu thì có rất nhiều. Tôi cho rằng, cái yếu của toàn ngành thủy sản là sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu. Sự mất cân đối thể hiện trên nhiều mặt kể cả trình độ tổ chức sản xuất, sản lượng, chất lượng của nguyên liệu và sự phối hợp giữa 2 khu vực. Tôi nói ví dụ vấn đề về an toàn thực phẩm, trước hết là liên quan đến dư lượng các chất kháng sinh và hoá chất trong thủy sản. Điều này nảy sinh ở khâu thủy sản nguyên liệu, nhưng người gánh chịu là doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Làm sao khắc phục được điều này thì đây là vấn đề không phải đơn giản, phải cần sự phối hợp 2 khu vực. Thứ 2 là khả năng đưa tên tuổi của thuỷ sản Việt Nam ra thị trường quốc tế, khẳng định chỗ đứng của mình trên thị trường quốc tế. Nếu xét về toàn cục thì chúng ta làm tương đối tốt, nhưng từng doanh nghiệp thì đó còn là vấn đề lớn, đặc biệt là thương hiệu, chúng ta vẫn đang xuất thông qua các nhà nhập khẩu và được phân phối dưới rất nhiều tên khác nhau. Thứ 3 là quản trị doanh nghiệp, phải nói thực là trình độ quản lý của các doanh nghiệp của chúng ta còn thấp so với các đối thủ cạnh tranh của mình trên thị trường.
PV: Thưa ông, thời gian qua Hiệp hội ngành hàng, đặc biệt là hiệp hội VASEP đã có những đóng góp đáng kể trong liên kết doanh nghiệp với nhau trong việc vượt qua các rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại, tuy nhiên chúng ta đã gia nhập WTO thì vấn đề này chắc chắn sẽ còn gay gắt hơn. Vậy, VASEP chuẩn bị như thế nào để đối phó với những rào cản thương mại này?
Ông Nguyễn Hữu Dũng: Thực ra liên kết là một trong điểm yếu cố hữu của nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Để mà khắc phục những điểm yếu này, phải dựa trên nguyên tắc chia sẻ quyền lợi, trách nhiệm của doanh nghiệp. Để làm được điều đó, Hiệp hội VASEP đã hình thành các ủy ban ngành hàng. Chúng tôi cho rằng sự hợp tác, phối hợp phải thể hiện trên từng nhóm ngành hàng một, bởi ngoài vấn đề chung, còn có những vấn rất riêng đối với từng nhóm hàng và chỉ có những người sản xuất cùng nhóm hàng đó mới cùng nhau giải quyết hệ quả vấn đề đó. Thứ hai là chủ động liên kết giữa người sản xuất nguyên liệu và các nhà chế biến, chúng tôi gọi là liên kết dọc. Đồng thời phải phát triển các mối liên kết ngang tức là liên kết giữa các doanh nghiệp cùng ngành hàng và liên kết dọc giữa doanh nghiệp ngành hàng đó với người sản xuất nguyên liệu. Đây là một trong những định hướng quan trọng trong hoạt động của VASEP. Mối liên kết thứ 3 là liên kết với thị trường, tức là liên kết trực tiếp với khách hàng của các thị trường đó. Điều này phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thuỷ sản của chúng ta với nhóm khách hàng nước ngoài. Hiện nay, với vị thế của ngành thủy sản Việt nam trên thị trường thế giới, chúng ta có thể chuyển từ nhóm khách hàng có qui mô nhỏ sang nhóm khách hàng qui mô lớn. Điều này chúng ta cũng cần phải có chiến lược để nhóm doanh nghiệp ngành hàng chúng ta phối hợp với các Tập đoàn lớn của thế giới, đây là liên kết hết sức quan trọng. Còn một mối liên kết nữa đó là liên kết với các tổ chức bảo vệ môi trường. Thực tế là các tổ chức môi trường, tiếng nói của họ có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng, đối với cộng đồng dân cư. Cho nên, việc đáp ứng các yêu cầu của tổ chức môi trường là một yếu cầu cần thực hiện. Để đảm bảo việc này, chúng ta còn phải tăng cường phối hợp, liên kết với nhóm các cơ quan kiểm tra, đánh giá công nhận, chứng nhận. Như vậy có thể thấy, hiện nay VASEP đã và đang chủ trương tạo khung liên kết 4 bên, bao gồm; Thứ nhất là nhóm các nhà sản xuất (bao gồm cả người sản xuất nguyên liệu và người chế biến), thứ 2 là các khách hàng nhập khẩu thuỷ sản thế giới, và thứ 3 là các tổ chức về môi trường, và thứ 4 là các tổ chức đánh giá, công nhận, chứng nhận….
PV: Xin cảm ơn ông.