Cần quan tâm đào tạo khoa học - công nghệ cho nguồn nhân lực nữ

Theo số liệu thống kê, nguồn nhân lực khoa học - công nghệ (KH-CN) của tỉnh ta (gồm những người được đào tạo chuyên môn từ đại học trở lên) hiện có khoảng 18 ngàn người. Trong đó, trên 16 ngàn người (chiếm gần 40% tổng biên chế) đang làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội và trong các doanh nghiệp. Nguồn nhân lực nữ KH-CN đang có việc làm, chiếm khoảng hơn 1/3 trong tổng nguồn nhân lực nêu trên, tập trung chủ yếu ở lĩnh vực khoa học xã hội (y tế, giáo dục - đào tạo, văn hoá, thông tin...).

Trong những năm đổi mới vừa qua, đội ngũ nữ cán bộ KH-CN đã có nhiều đóng góp quan trọng vào nhiệm vụ phát triển KT-XH của tỉnh. Hiện nay, nguồn nhân lực nữ KH-CN, với 1/3 có trình độ từ thạc sĩ trở lên, đang tiếp tục phát huy tốt vai trò, khả năng của mình trên các lĩnh vực, trở thành lực lượng lao động chất lượng cao, có khả năng đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH.

Cần quan tâm đào tạo khoa học - công nghệ cho nguồn nhân lực nữ ảnh 1

 Một lớp tin học do Hội PN tỉnh tổ chức.    
                                             Ảnh: Hoàng Phương (Hội LHPN tỉnh)

Tuy nhiên, xét về quy mô, nguồn nhân lực nữ KH-CN của tỉnh phát triển chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ (chỉ chiếm 14% tổng biên chế trong các cơ quan, đơn vị) và phân bổ không đồng đều, như ở lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tỷ lệ nữ chiếm tới 67%, nhưng ở khu vực doanh nghiệp, cán bộ nữ chỉ chiếm khoảng 1/3, ở các tổ chức chính trị là 1/5. Đội ngũ cán bộ nữ đầu đàn, chuyên gia trong lĩnh vực KH-CN có trình độ cao còn thiếu và mỏng, mới chỉ tập trung chủ yếu ở một số ngành (trong khi đó, đa số chị em tuổi đã cao). ở khu vực sản xuất hàng hoá, đòi hỏi việc ứng dụng công nghệ mới đều thiếu vắng cán bộ nữ có trình độ chuyên môn cao. Một số địa bàn, như TP Hạ Long, TX Móng Cái, TX Cẩm Phả... đang tập trung phát triển mạnh thương mại, dịch vụ, thì nguồn nhân lực nữ KH-CN có xu hướng giảm do thiếu nguồn lực bổ sung. Nguyên nhân là do trong quá trình xây dựng, quy hoạch về chiến lược cán bộ nói chung, một số ngành, địa phương chưa coi trọng đối tượng cán bộ nữ. Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng như bố trí và sử dụng lao động chưa được lồng ghép vấn đề giới hoặc xem xét yếu tố giới...

Để có đội ngũ cán bộ KH-CN nữ vừa đông về số lượng lại vừa đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, ngoài giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ về quy hoạch, tạo nguồn cán bộ nữ trong tổng thể chiến lược cán bộ, tỉnh cũng cần có cơ chế chính sách phù hợp khuyến khích, động viên chị em phụ nữ học tập, trau dồi nghiệp vụ, chuyên môn, cũng như trong việc tuyển dụng, bố trí và sử dụng lao động nữ có trình độ đại học, cao đẳng. Mặt khác, cần đặc biệt quan tâm đến giải pháp đào tạo nguồn và bồi dưỡng cán bộ nữ, thực hiện mô hình “Liên kết trong đào tạo cán bộ ngành, tỉnh, trung ương). Mô hình này rất phù hợp với việc đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ các cấp cơ sở khi họ vừa có thể nâng cao trình độ, vừa có điều kiện đảm đương vai trò tổ chức cuộc sống gia đình.

Để triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH” ở các cấp, ngành, thiết nghĩ cần đổi mới mạnh mẽ công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nữ; bố trí, tuyển dụng và sử dụng hợp lý nguồn lao động nữ; quan tâm về cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để chị em phát huy tốt nhất năng lực, trình độ trong công tác, học tập và phấn đấu. Chỉ có như vậy tỉnh ta mới đào tạo và xây dựng được nguồn nhân lực nữ có trình độ KH-CN dồi dào ở các cấp, ngành, đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH ở tỉnh ta.