Cần sớm dịch chú tấm bia cổ ở núi Thung

Báo Quảng Ninh số ra thứ Bảy, ngày 9-6-2012 có đăng bài: “Về tấm bia Thiên Liêu Sơn tại di tích Tam Bảo địa” của tác giả Trần Thuỳ Chi (BQL Các di tích trọng điểm tỉnh). Nội dung bia cho biết có vị được vua Trần ban quốc tính là Trần Khắc Chung và vợ là Bảo Hoàn Công chúa cùng trang Ma Liêu làm của Tam bảo. Tấm bia này rất có giá trị, là tài liệu duy nhất nói về tình hình điền sản của Trần Khắc Chung ở Đông Triều mà ở các sách sử khác chưa từng đề cập tới...

Theo các tài liệu nghiên cứu, thời Trần mới định lệ cấp bổng cho các quan văn, võ trong ngoài. Đây là nét khác biệt rất cơ bản về tổ chức nhà nước của triều đại nhà Trần. Có thể thấy chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc của nhà Trần dưới một hình thức tiêu biểu nhất là thái ấp.

Ban cấp thái ấp là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính quyền Trần. Từ “thái ấp” trong sử cũ không nhiều. Chế độ nhà Trần các vương hầu đều ở phủ đệ ở hương của mình, khi chầu hầu thì mới đến kinh sư, xong lại về. Người nào được triệu làm tể tướng mới ở kinh sư, khi ấy đất ở không định hạn.

Mặc dầu vậy, một văn bản chính thức đương thời được chép khá nguyên vẹn trong các sử cũ là bài Hịch tướng sĩ của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng hai lần nhắc đến từ thái ấp: “Không những thái ấp của ta bị tước” thì rõ ràng thái ấp là sự thực khách quan và là của quý tộc họ Trần.
Thái ấp (ấp thang mộc, đất tắm gội) là ruộng đất do nhà Vua ban cấp cho các quý tộc và triều thần có công. Trên danh nghĩa, ruộng đất thái ấp thuộc quyền sở hữu của nhà nước, Triều đình có quyền lấy của người này ban cấp cho người khác. Quý tộc có quyền sử dụng và hưởng hoa lợi về đất đai và một phần về cư dân trên đó, như thu tô thuế, xây dựng phủ đệ, lập các đội quân vương hầu gia đồng (còn gọi là thang mộc binh).

Điền trang là những trang trại lớn của các quý tộc đời Trần, do quý tộc trực tiếp quản lý, sử dụng sức lao động của gia nô, nô tì; có quyền thừa kế. Đó là bộ phận ruộng đất thuộc sở hữu lớn phong kiến, tư nhân.

Năm 1266, Triều đình xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng hoang lập thành điền trang, sau đó lại cho phép các gia nô trong điền trang kết hôn với nhau, lập thành gia đình. Trong khoảng 1 thế kỷ, kinh tế điền trang quý tộc đã phát triển mạnh, chủ yếu ở các bãi bồi ven sông. Chế độ điền trang hàm chứa những yếu tố và xu thế cát cứ. Cũng do nhờ chính sách lập thái ấp, điền trang với quân đội riêng của từng vương hầu mà triều Trần vững mạnh và đủ sức 3 lần chặn đứng không cho quân Mông Nguyên tràn xuống phía Nam và Đông Nam Á.

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, thì Trần Khắc Chung tên thật là Đỗ Khắc Chung, người ở Giáp Sơn cùng quê với mẹ của vua Trần Hiến Tông. Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai, Trần Khắc Chung đã ghi công lớn với nhà Trần nên đã được đổi họ Đỗ sang Trần. Trong thời kỳ phục vụ bốn đời Vua: Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, Trần Hiến Tông, Trần Khắc Chung giữ nhiều chức vụ quan trọng, như: Đại hành khiển, Tể tướng, Thượng thư, Ngự Sử đại phu, Đại an phủ kinh sư, Quan nội hầu, Sư bảo. Khi đất nước đang cơn binh lửa, chính Trần Khắc Chung đã dũng cảm nhận mệnh vua Trần, là nhà ngoại giao hiên ngang đi vào sào huyệt nguy hiểm của giặc, khiến cho tướng giặc là Ô Mã Nhi phải kính nể.

Năm 1306, sau khi gả Huyền Trân Công chúa cho vua Chiêm Thành là Chế Mân. Vua Chiêm Thành đã dâng châu Ô và châu Rí cho Đại Việt. Vua Trần Anh Tông đổi tên là Thuận Châu và Hoá Châu rồi đặt quan cai trị cũng như cho di dân sang ở. Năm 1307 khi vua Chiêm Thành là Chế Mân chết, Vua Trần Anh Tông vội sai quan Nhập nội Hành khiển Thượng thư Tả bộc xạ Trần Khắc Chung, cùng với An phủ sứ Đặng Văn vào Chiêm Thành để tìm cách cứu Huyền Trân Công chúa. Bởi theo tục lệ Chiêm Thành, khi Vua mất thì Hoàng hậu phải lên giàn hoả thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ Huyền Chân Công chúa bị hại, bèn sai Khắc Chung mượn cớ sang viếng tang, rồi nói, nếu hoả táng Công chúa trước thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng trước ra bờ biển chiêu hồn ở chốn ven trời, đón linh hồn (Chế Mân) cùng về rồi hãy lên giàn hoả thiêu, người Chiêm Thành nghe theo. Ra biển, sau khi làm lễ tế ở bãi biển Thị Nại (Quy Nhơn), Trần Khắc Chung cùng An phủ sứ Đặng Văn và đoàn tuỳ tùng theo mưu kế định sẵn, đưa  Huyền Trân Công chúa xuống thuyền nhanh chóng dong buồm ra Bắc.

Đông Triều, nơi quê gốc nhà Trần, song ở vùng Đông Triều chỉ thấy các tài liệu lịch sử nói về thái ấp của Trần Liễu (Đông Triều). Còn điền trang được nhắc nhiều đến là của Trần Khánh Dư ở Chí Linh (Hải Dương). Đây là tài liệu duy nhất nói về tình hình điền trang của Trần Khắc Chung ở Đông Triều. Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng sớm dịch chú để khai thác, nghiên cứu về quản lý và sử dụng điền trang làm của Tam bảo cũng như vị quan Trần Khắc Chung trong triều Trần trên đất Đông Triều.

Trung Hiếu (CTV)

Cùng chuyên mục