Ngày 26-7-2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định 120/2007/QĐ-TTg thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế Vân Đồn (KKTVĐ). KTTVĐ bao gồm toàn bộ huyện Vân Đồn.
Một trong những mục tiêu của việc thành lập KKTVĐ là từng bước xây dựng và phát triển KKTVĐ trở thành trung tâm du lịch sinh thái biển - đảo chất lượng cao, trung tâm hàng không quốc tế, trung tâm dịch vụ cao cấp và là đầu mối giao thương quốc tế; đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững cho Quảng Ninh. Để xây dựng KKTVĐ nhanh chóng đạt được mục tiêu đề ra, đòi hỏi tỉnh phải có sự quan tâm đặc biệt và nỗ lực lớn.
Hệ thống hạ tầng cơ sở ở huyện đảo Vân Đồn còn sơ sài.
Trong ảnh: Trục đường chính trên đảo Ngọc Vừng sẽ không đáp ứng được nhu cầu phát triển, mặc dù là nơi đang có nhiều dự án đầu tư.
Nhiều khó khăn đặc thù
Là khu kinh tế (KKT) thứ 10 được thành lập trong cả nước, nhưng đến thời điểm này, có thể khẳng định KKTVĐ có những đặc thù riêng biệt không giống như các khu kinh tế đã có. Với 55.133 ha, KKTVĐ không phải là rộng nhất trong 13 KKT, nhưng lại dàn trải trên hơn 600 hòn đảo (chứ không khuôn gọn trong phạm vi một địa phận như các KKT khác). Ưu thế này hứa hẹn những tiềm năng trời phú để nhà đầu tư lựa chọn khai thác, song lại là bài toán cực khó khi Chính phủ và tỉnh đưa ra lời giải cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở. Bởi lẽ, khi xây dựng ở Vân Đồn một KKT của cả nước, Chính phủ còn muốn xây dựng Vân Đồn thành “hạm đội” tiền tiêu vững vàng trong thế trận an ninh quốc phòng của miền Đông Bắc Tổ quốc.
Đồng chí Trần Đức Lâm, Trưởng Ban Quản lý KKTVĐ cho biết: Bên cạnh nhiều tiềm năng chung về biển, thì một trong những thế mạnh riêng có của Vân Đồn là hệ thống hơn 600 hòn đảo trên vịnh Bái Tử Long. Nếu trong quần thể gần 2.000 hòn đảo của vịnh Hạ Lọng chỉ có duy nhất Tuần Châu là đảo đất lớn thì Vân Đồn có hơn 20 đảo đất tuyệt đẹp đủ điều kiện để nhà đầu tư xây dựng các công trình trên đó. Tuy nhiên đây chính là khó khăn khi Chính phủ và tỉnh phải xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Nếu các KKT khác trên cả nước được xây dựng để mời gọi cho các dự án công nghiệp như sản xuất thép, nhiệt điện, hoá dầu, dịch vụ hàng hải, cảng nước sâu... vừa khuôn gọn trong đầu tư, lại nhanh thu hồi vốn, dễ sinh lời; thì KKTVĐ với hướng phát triển chủ đạo là du lịch sinh thái biển đảo chất lượng cao thì lại yêu cầu hệ thống hạ tầng kỹ thuật cao, đồng bộ. Bởi vậy, đòi hỏi tất yếu để nhà đầu tư đến là Vân Đồn phải có hệ thống hạ tầng hiện đại, đồng bộ và tương thích với yêu cầu đa dạng của nhà đầu tư. Đó là hệ thống cầu, đường chung của cả KKT và của mỗi hòn đảo riêng biệt; hệ thống cảng hàng không, dịch vụ viễn thông bưu chính, ngân hàng; hệ thống điện lưới nguồn nước ngọt cho hệ thống các khách sạn 5 sao, những khu nghỉ dưỡng cao cấp... Chỉ riêng vấn đề điện lưới và nước ngọt cho các tuyến đảo của Vân Đồn hiện đã là bài toán nan giải, bởi bản thân huyện đảo Vân Đồn hiện nay có nguy cơ thiếu nước ngọt do việc khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm chưa có quy hoạch.
Có nguy cơ đi chậm hơn so các KKT cùng tuổi
Sau một thời gian tỉnh và Ban Quản lý KKTVĐ tích cực hoàn thiện nội vụ, ổn định bộ máy, phục vụ các bộ, ngành trung ương và nước ngoài thực hiện công tác quy hoạch, đồng thời đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, đến nay có nhiều nhà đầu tư từ Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Xinhgapo đã đến “dạm ngõ” Vân Đồn. Nhiều ý tưởng đầu tư lớn, hứa hẹn hiệu quả lớn, đã hình thành... Và gần đây nhất, Ban quản lý KKTVĐ đã lập báo cáo thẩm tra, đề nghị UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 2 dự án để làm quần thể sân gôn, khách sạn 5 sao, khu nghỉ dưỡng cao cấp và khu du lịch sinh thái. Những kết quả này là nỗ lực không nhỏ của Ban Quản lý KKTVĐ và tỉnh, tuy nhiên nếu so với một số KKT cùng tuổi khác, thì vẫn là rất khiêm tốn nếu không muốn nói là có nguy cơ đi chậm hơn. Ví dụ như các KKT Vũng áng (Hà Tĩnh), Nghi Sơn (Thanh Hoá), Vân Phong (Khánh Hoà), hay như Đình Vũ (Hải Phòng) cũng mới thành lập trong năm 2007 hoặc đầu năm 2008, nhưng họ đã có khá đông nhà đầu tư đến. Cụ thể như KKT Nghi Sơn, trong năm 2007 đã có 33 nhà đầu tư đến tìm hiểu, sau đó 11 nhà đầu tư được cấp giấy phép. Cũng trong KKT này, năm 2007, tỉnh Thanh Hoá đã triển khai được 12 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, với số vốn 200 tỷ đồng. KKT Vân Phong trong năm 2007 cũng đã thu hút 48 dự án, với số vốn đăng ký hơn 7 tỷ USD... Dĩ nhiên, có khác biệt: Sở dĩ các KKT này nhanh chóng thu hút nhà đầu tư và có vốn để làm hạ tầng, hoặc đã có cơ sở hạ tầng thiết yếu là bởi chúng được xây dựng trên cơ sở vốn đã là khu công nghiệp của các địa phương. Tuy nhiên, đưa ra các ví dụ này để thấy rằng, nếu không có cuộc chạy đua nước rút trong khi KKT Vân Đồn lại có quá nhiều khó khăn trong xây dựng hạ tầng như nói ở trên, e rằng có nguy cơ phát triển chậm hơn so với tiến độ chung. Để thấy rằng, hơn lúc nào hết, tỉnh Quảng Ninh cần đặt nhiệm vụ, đặt sự quan tâm xây dựng KKTVĐ là một trong những nhiệm vụ quan trọng, để dành sự quan tâm đặc biệt, xứng đáng với vị thế của KKT này.
Cần lộ trình cụ thể và cơ chế ưu đãi đặc biệt
Đến thời điểm hiện nay, Quy hoạch Tổng thể phát triển KT-XH và Quy hoạch chung xây dựng KKTVĐ đang được tỉnh và các bộ, ngành trung ương cùng đối tác nước ngoài khẩn trương thực hiện. Sau khoảng 10 tháng nữa, các quy hoạch này sẽ hoàn thành, là cơ sở cho các nhà đầu tư đặt nền móng xây dựng. Được biết, nhu cầu vốn đầu tư kết cấu hạ tầng KKTVĐ đã được UBND tỉnh đề nghị Bộ Kế hoạch - Đầu tư ghi vốn từ giữa năm 2006. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, đến nay, vấn đề giải ngân chưa thực hiện được. Theo đề nghị này, tổng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho KKTVĐ từ năm 2006-2020 là gần 22 ngàn tỷ đồng (chiếm 17,4% so với nhu cầu vốn đầu tư cho các KKT của cả nước). Theo đó, thứ tự ưu tiên đầu tiên là hệ thống giao thông, trong đó sân bay Vân Đồn, Cảng Vạn Hoa, cầu Vân Tiên, đường vành đai phía Đông đảo Cái Bầu, cùng hệ thống giao thông trên các đảo Quan Lạn, Ngọc Vừng, Vạn Cảnh, Thắng Lợi, Trà Bản, Trà Ngọ, và các bến cập tàu du lịch; hệ thống cung cấp điện, nước.... Tuy nhiên số vốn ước tính xây dựng tại thời điểm năm 2006 là gần 22 ngàn tỷ đồng ấy quả là con số khổng lồ, mà nói như Trưởng Ban Quản lý KKTVĐ Trần Đức Lâm là không thể chỉ trông chờ ngân sách nhà nước. Trong một buổi làm việc giữa Ban Quản lý KKTVĐ và Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch - Đầu tư, sau khi nghe lãnh đạo Ban Quản lý KKTVĐ trình bày điều kiện tự nhiên và những yêu cầu về các công trình hạ tầng ở Vân Đồn thì đại diện của Viện Chiến lược, Bộ Kế hoạch - Đầu tư cũng phải công nhận, để xây dựng được hạ tầng kỹ thuật cho KKTVĐ quả thực cần có cơ chế đặc thù riêng.
Xã hội hoá, kêu gọi nguồn vốn của các nhà đầu tư để xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở Vân Đồn, cùng với vốn ngân sách, vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ là những giải pháp tổng hợp, đúng đắn. Tuy nhiên để giải pháp này dần hiện thực hoá thì có lẽ không thể muộn hơn, UBND tỉnh cần quan tâm, chủ động chỉ đạo trong việc xây dựng và đề xuất các bộ, ngành, trình Chính phủ để hoàn thiện một lộ trình đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng theo thứ tự ưu tiên, kế hoạch chi tiết huy động nguồn vốn cụ thể ra sao, với những cơ chế ưu đãi cần thiết gì cho từng dự án, từng công trình là việc hết sức quan trọng. Từ đó, tỉnh mới hiện thực hoá kế hoạch xây dựng hạ tầng cho KKTVĐ - một công trình KT-XH, an ninh quốc phòng lớn nhất của tỉnh từ trước đến nay.