Cầu Bãi Cháy với người dân đất Mỏ

Có mặt tại Quảng Ninh vào những ngày này sẽ thấy người dân đất mỏ vui đón sự kiện khánh thành cầu Bãi Cháy như thế nào. Ở đâu cũng thấy người ta bàn tán về cầu Bãi Cháy...

Cầu Bãi Cháy với người dân đất Mỏ ảnh 1Trên phà, dù chẳng quen biết nhau, nhưng chỉ cần có người nào đó khơi chuyện, là y rằng những người xung quanh sẽ sôi nổi góp vào; nào là đây là cây cầu “hiện đại nhất thế giới”, nào là “có thể xếp cầu Bãi Cháy vào hàng kỳ quan” v.v... Mọi người hồ hởi chờ đợi ngày thông xe chẳng khác gì gia chủ chờ đợi ngày vào nhà mới! Ngay ở Báo Quảng Ninh, từ đầu tháng tám đến nay, trong số bài vở mà bạn đọc và cộng tác viên gửi đến có rất nhiều... thơ ca viết về cầu Bãi Cháy!

“- Nghĩa là “sự kiện cầu Bãi Cháy” không còn mang ý nghĩa kinh tế - xã hội thuần túy mà đã đi cả vào đời sống văn hóa - văn nghệ ở địa phương” - Một cán bộ làm công việc biên tập báo, nhận xét: “- Lâu lắm rồi mới lại thấy một công trình xây dựng “được lòng dân” đến thế!”.

Cái cách mà người dân đất mỏ quan tâm đến “sự kiện cầu Bãi Cháy” cũng thật phong phú, đa dạng. Những người nhà ở bên đông (khu vực trung tâm thành phố Hạ Long) nhưng làm việc ở bên tây (phía Bãi Cháy) hay những người nhà ở bên tây mà làm việc bên đông, thì tỏ rõ mừng vui vì sắp được thoát cảnh chầu chực đợi phà... Nhưng không hẳn chỉ thế, người ta mừng vui còn bởi cây cầu Bãi Cháy, với nét kiến trúc thanh thoát, hiện đại, rõ ràng là đã làm tôn thêm vẻ đẹp cho Vịnh Hạ Long rất nhiều. Chưa khánh thành, chưa thông cầu, nhưng đã thấy nhiều thợ ảnh chuyên nghiệp nhắm cây cầu làm phông để chụp ảnh cho khách du lịch hoặc để sáng tác những bức ảnh mới về Hạ Long. Và nữa, trong câu chuyện về cầu Bãi Cháy, vốn là chủ đề thời sự hiện nay ở các bàn trà, quán bia hay nhà hàng bình dân ở TP Hạ Long, còn thấy người ta nói nhiều đến cung cách xây dựng của những người thợ cầu. Thật ngạc nhiên khi thấy rất nhiều người dân bình thường lại tỏ ra am hiểu khá sâu về kỹ thuật chuyên môn trong việc xây dựng cây cầu (có lẽ cũng nhờ sự đưa tin khá dày trên các phương tiện thông tin đại chúng về công trình thế kỷ này chăng?). Nào đây là cây cầu “dây văng một mặt phẳng lớn nhất thế giới”; nào là: “với việc sử dụng phương án móng chìm hơi ép, cầu Bãi Cháy có thể chịu được động đất ở mức cấp 7”; nào là: “việc thi công các đốt dầm (kích thước mỗi đốt xấp xỉ tới 26x14 mét) phải đảm bảo độ chính xác tới từng milimét...” và: “trước khi đổ bê tông các đốt dầm này, người ta đã dùng giấy ăn để lau thử các cây sắt, nếu có vết bẩn là phải làm lại ngay” v.v... và v.v... Có thể nói, chỉ khi người ta thực sự quan tâm đến một cái gì đó thì mới có sự hiểu biết tường tận về nó như vậy! Và xung quanh chuyện xây dựng cây cầu Bãi Cháy là như thế!

Cũng từ chuyện xây dựng cầu Bãi Cháy mà nảy ra những chuyện khác. Người ta thán phục cách làm việc của những người thợ cầu; không ầm ĩ, trống giong cờ mở, lặng lẽ từng ngày, từng dầm cầu cứ nhích lại gần nhau cho đến ngày hợp long tại điểm giữa sông, trên độ cao 50 mét so với mực nước biển. Và đặc biệt, một công trình xây dựng lớn, với số vốn đầu tư tới 2.140 tỷ đồng, với một khối lượng vật liệu xây dựng, bê tông, sắt thép v.v... khổng lồ, vậy mà “cấm có thấy bụi, cấm có thấy tiếng ồn...” như những công trình xây dựng khác...

Nhưng trong sự hồ hởi chờ mong ngày khánh thành cây cầu, cũng có cả sự bâng khuâng khi sắp sửa chia tay với những con phà, vốn đã gắn bó với người dân đất mỏ từ bao đời nay. Có lần, trò chuyện với chúng tôi, ông Cao Thức, nguyên là cán bộ phụ trách bến phà Bãi Cháy những năm chiến tranh chống Mỹ, rồi sau đó là Trưởng ty Giao thông Quảng Ninh những năm đầu thập kỷ tám mươi của thế kỷ trước, trầm ngâm: “- Mình tiếc hồi ấy không đề nghị tỉnh giữ lại những con phà từng vượt sông dưới làn bom đạn, mình đầy thương tích, để đưa vào trưng bày tại bảo tàng! Liệu rồi bọn trẻ sau này có hình dung nổi một bến phà ba lần anh hùng là như thế nào không nhỉ?”...

Nhắc đến quá khứ, lại nghĩ đến “số phận” của những con phà và những người công nhân ở các bến phà. Bởi lẽ, cầu Bãi Cháy chính là cây cầu đã thực hiện “sứ mệnh lịch sử” là đặt dấu “chấm hết” cho sự tồn tại của các bến phà trên suốt dọc tuyến đường 18A. Từ đây, mọi phương tiện giao thông từ thủ đô Hà Nội tới thị xã Móng Cái (Quảng Ninh), nơi địa đầu Tổ quốc, không còn cảnh phà, đò nữa! Điều này có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ với Quảng Ninh mà cho cả toàn khu vực các tỉnh phía Bắc. Với cầu Bãi Cháy, cây cầu lớn nhất trên toàn tuyến, nó càng có ý nghĩa quan trọng hơn. Bởi lẽ, eo biển Cửa Lục mà cây cầu bắc qua là luồng vào cảng nước sâu Cái Lân và khu công nghiệp đóng tàu trọng tải trên 10.000 tấn. Vì thế, yêu cầu đảm bảo an toàn cho tàu, thuyền vào cảng là bắt buộc. Cầu Bãi Cháy được thiết kế cao hơn so với mặt nước biển 50 mét, tĩnh không thông thuyền rộng 130 mét đã đáp ứng được điều đó, đảm bảo các tàu trọng tải 5 vạn tấn đều có thể qua lại bình thường. Nhiều lần đến thăm công trường xây dựng cầu Bãi Cháy trong quá trình những người thợ cầu đang thi công, chúng tôi hiểu rất rõ vai trò của nó trong tương lai. Khi mà bên cạnh sự phát triển về kinh tế với tốc độ ngày càng cao là mối quan tâm tới việc bảo tồn cảnh quan môi trường khu vực Di sản Vịnh Hạ Long. Thật khó hình dung một Vịnh Hạ Long được cả thế giới ngưỡng mộ lại vẫn cứ tồn tại cảnh mỗi ngày có tới hàng năm, sáu trăm chuyến phà qua lại trên cái eo biển nhỏ nhoi này. Nói cách khác, sự “chuyển giao lịch sử” giữa cây cầu Bãi Cháy với những con phà chậm chạp ấy là tất yếu! Thế nhưng, vẫn cảm thấy có điều gì đó bâng khuâng... Liệu rồi những người thợ máy bao năm gắn bó với con phà sẽ được bố trí công ăn việc làm ra sao? Liệu rồi những máy móc, cơ sở vật chất bao năm đầu tư cho các nhà phà sẽ được sử dụng như thế nào để không bị lãng phí?

Mong sao mọi chuyện đều suôn sẻ, tốt đẹp; cầu Bãi Cháy, một “điểm nhấn” của Hạ Long và biết đâu đấy sẽ là biểu tượng trong tương lai của Vùng mỏ Quảng Ninh (rất có thể như thế lắm chứ!) sẽ mãi là cây cầu của tình yêu, niềm tự hào của người dân đất mỏ...

Cùng chuyên mục