* Cơ bản thực hiện tốt chế độ chính sách đối với CBCC xã, phường, thị trấn trong tỉnh
Trả lời kiến nghị của các cử tri địa phương “Về việc chi trả phụ cấp cho cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở xã phường, thị trấn, thôn, bản khu phố”, đồng chí Vũ Minh Thiết, Giám đốc Sở Nội vụ nói: Thực hiện Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22-1-2009 của Chính phủ và Nghị quyết số 23/2009/NQ-HĐND ngày 11-12-2009 của HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định 68/2010/QĐ-UBND tỉnh “quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, thôn, bản, khu phố”, đồng thời chỉ đạo các sở, ngành và địa phương khẩn trương triển khai thực hiện. Theo đó, ngành chức năng đã có văn bản hướng dẫn UBND các huyện, thị xã, thành phố chủ động sử dụng nguồn kinh phí tự đảm bảo tăng lương, nguồn thu dự toán năm 2010 được giao để chi trả kịp thời tiền lương, phụ cấp, trợ cấp và các khoản đóng góp theo quy định mới cho các đối tượng, đồng thời có báo cáo gửi Sở Tài chính trước ngày 31-3-2010 để thẩm định, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh và Bộ Tài chính. Trường hợp nguồn tự đảm bảo tăng lương 2010 của địa phương không đủ để chi, tỉnh sẽ kịp thời bổ sung kinh phí cho các địa phương để thực hiện. Đến 21-6-2010, tỉnh đã cấp 60% nhu cầu kinh phí cả năm 2010 cho các địa phương phải bổ sung từ ngân sách tỉnh để thực hiện điều chỉnh tiền lương, phụ cấp, trợ cấp mới theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện QĐ 68, một số xã, phường thực hiện chưa kịp thời, gây bức xúc cho những người được hưởng phụ cấp. Ngay khi nhận được phản ánh của các ĐB HĐND về kiến nghị của cử tri về vấn đề này, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương kiểm tra đôn đốc thực hiện nghiêm việc chi trả chế độ phụ cấp mới cho các đối tượng thu hưởng theo quy định. Đến 30-6, qua kiểm tra cho thấy tất cả 14/14 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đã thực hiện xong việc chi trả 6 tháng chế độ phụ cấp mới cho những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và thôn, bản, khu phố theo QĐ 68 của UBND tỉnh.
Sau khi nghe đồng chí Giám đốc Sở Nội vụ giải trình, chủ tọa kỳ họp đã ghi nhận những cố gắng của Sở Nội vụ đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định văn bản để triển khai NĐ 92/CP và Nghị quyết số 23 của HĐND tỉnh sớm. Chủ tọa kỳ họp cũng yêu cầu các ngành chức năng cùng với Sở Nội vụ, đẩy mạnh công tác kiểm tra, đôn đốc các địa phương triển khai thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của T.Ư, tỉnh về vấn đề này.
* Cần đẩy nhanh xây dựng đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở
Ý kiến của nhiều cử tri và ĐB HĐND cho rằng thiết chế văn hóa từ tỉnh đến thôn, bản, khu phố trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua còn nhiều hạn chế. Về vấn đề này, đồng chí Hà Quang Long, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch cho biết: Quảng Ninh là tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, song hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao các cấp chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ, nhất là tuyến xã, phường, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về hoạt động, hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân, Còn khoảng cách chênh lệch khá lớn về đời sống văn hóa giữa các vùng, miền trong tỉnh, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo... Những hạn chế trên là do các nguyên nhân: Năm 2006, UBND tỉnh đã phê duyệt điều chỉnh quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa, thể thao đến năm 2010 và định hướng đến 2020, song các ngành hữu quan và các địa phương chưa tích cực tham mưu, chưa xây dựng được kế hoạch chi tiết và đầu tư xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao các cấp; đây là chương trình phải đầu tư ngồn vốn lớn hàng nghìn tỷ đồng và yêu cầu phải thực hiện trong 5 năm, do đó rất khó khăn cho ngân sách tỉnh, địa phương phải cân đối bố trí kinh phí thực hiện hàng năm; việc quy hoạch và dành quỹ đất cho xây dựng các thiết chế văn hóa thể thao ở cơ sở nhiều địa phương chưa thực hiện được; nhân sự cho thiết chế trung tâm văn hóa thể thao cấp xã chưa có chính sách cụ thể...
Khắc phục những tồn tại trên, theo đồng chí Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, HĐND tỉnh xem xét sớm ban hành nghị quyết chuyên đề về đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở; xây dựng kế hoạch chi tiết và phân kỳ đầu tư kinh phí xây dựng và phát triển đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa thể thao các cấp; đổi mới toàn diện công tác quản lý xây dựng cơ bản, đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân các dự án văn hóa, thể thao, thực hiện phương châm làm đến đâu đạt chuẩn đến đó. Đối với thiết chế văn hóa cấp tỉnh, thành lập cơ quan chuyên môn, chuyên sâu để triển khai thực hiện xây dựng các thiết chế văn hóa thể thao quy mô lớn; cấp huyện, đẩy nhanh các dự án đang triển khai. Khẩn trương lập dự án ở các địa phương chưa có thiết chế, nâng cấp các thiết chế đã có. Cấp xã, tập trung triển khai thực hiện kế hoạch xây dựng điểm 14 trung tâm đạt chuẩn theo tiêu chí của Chính phủ tại mỗi địa phương trong tỉnh để rút kinh nghiệm, nhân rộng trong toàn tỉnh. Đối với thiết chế văn hóa cấp cơ sở thôn, khu chú trọng cải tạo nâng cấp và mở rộng quy mô đối với các công trình đã xây dựng; đầu tư 100% kinh phí mới cho nhà văn hóa thôn, bản vùng miền núi, biên giới, vùng sâu, xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo kế hoạch đã bố trí vốn năm 2010-2011. Tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, thể thao; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa...
ĐB Nguyễn Chí Thăng cho rằng: Nguyên nhân giải trình mà Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch là chưa thỏa đáng; việc tồn tại trên, ngành văn hóa tỉnh phải chịu trách nhiệm. Những giải pháp đề ra trong thời gian tới còn chung chung, chưa có lộ trình cụ thể... Chủ tọa kỳ họp chia sẻ với những khó khăn tác động dẫn đến những tồn tại, hạn chế, ghi nhận những biện pháp đề ra trong thời gian tới; nhưng yêu cầu ngành văn hóa không chỉ dừng lại ở các biện pháp đẩy nhanh xây dựng thiết chế văn hóa, mà phải phối hợp với các ngành chức năng, các địa phương, quan tâm coi trọng đến cả vấn đề bố trí đội ngũ cán bộ, quy hoạch quỹ đất, cơ chế chính sách, bộ máy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, cũng như xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa phải đồng bộ, phù hợp với từng địa phương, phong tục, tập quán dân tộc và có thể “nuôi” được bộ máy này khi các thiết chế văn hóa đi vào hoạt động.
* TKV cam kết tăng cường biện pháp bảo vệ môi trường và làm tốt công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên than
Giải trình tại kỳ họp về vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác than và những vi phạm liên quan đến công tác quản lý tài nguyên than trong thời gian qua, sau khi nêu rõ những dự án mà TKV đã và đang triển khai tích cực nhằm khắc phục vấn đề môi trường, đồng chí Bùi Văn Khích, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) khẳng định về giải pháp trong thời gian tới. Đó là: Tập trung thẩm định để phê duyệt các quy hoạch đổ thải 3 vùng Hòn Gai - Cẩm Phả - Uông Bí và giải pháp đổ thải vùng Hạ Long để tiến tới dừng khai thác lộ thiên vào năm 2014-2015; chỉ đạo các công ty thành viên, Công ty Môi trường - TKV tiếp tục và đẩy nhanh tiến độ cải tạo các bãi thải cao trên địa bàn tỉnh, triển khai các dự án cải tạo bãi thải mới theo kế hoạch...
Về việc xác định trách nhiệm và biện pháp khắc phục đối với một số tiêu cực trong sản xuất, kinh doanh than ở một số đơn vị thành viên của TKV trong thời gian gần đây, đồng chí Phó Tổng giám đốc TKV thừa nhận, sự việc khai thác than trái phép trong ranh giới tài nguyên do Công ty Than Mạo Khê quản lý vào dịp Tết Nguyên đán năm 2010 mà Báo Lao động nêu là có thật, hiện cơ quan Công an tỉnh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và đang điều tra làm rõ. TKV đã kịp thời chỉ đạo Công ty Than Mạo Khê kiểm điểm, xử lý những người vi phạm. Công ty Than Mạo Khê đã quyết định cảnh cáo ông Trần Văn Thiện, Phó Giám đốc Công ty; chấm dứt hợp đồng với trưởng phòng, 1 phó phòng và khiển trách đối với các Phó Giám đốc Công ty có liên quan, xử lý kỷ luật với cán bộ, nhân viên có liên quan thuộc Phòng Bảo vệ Công ty. TKV cũng đã quyết định cảnh cáo và miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Giám đốc Công ty Than Mạo Khê, tổ chức kiểm điểm đối với trưởng, phó ban, phòng và nhân viên của Tập đoàn có liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ than. Sau khi chỉ rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân để xảy ra vụ việc trên, TKV cam kết, thời gian tới sẽ tăng cường biện pháp kiểm tra, chỉ đạo; nghiên cứu, đề xuất, xây dựng các chế độ, chính sách về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, nhằm động viên lực lượng bảo vệ trong Tập đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; nghiên cứu, đề xuất với các cơ quan chức năng có thẩm quyền về quy hoạch, tổ chức khai thác than tại khu vực nhạy cảm, phức tạp...