Tháng 6-1991, ông Nguyễn Hải Châu, trú tại tổ 5, khu 1, phường Hà Khẩu (TP Hạ Long) đưa anh Nguyễn Đình Phúc, sinh năm 1970 (cháu gọi ông bằng chú) từ Nghệ An ra sinh sống cùng nhà. Bà Nguyễn Thị Năm (vợ ông Châu) tận tình lo xin việc làm cho Phúc.
Cạn tình...
Năm 1992, gia đình ông Châu chuyển ra cư trú tại khu Ao Cá, phường Giếng Đáy. Công trình nhà và thửa đất dành cho công nhân Xí nghiệp (XN) Phúc Thành (do ông Châu làm chủ) ở và chứa vật tư. Anh Phúc có một thời gian ở tại đây.
Năm 1998, khi lập bản đồ địa chính, 70m2 nhà và công trình phụ, cùng 1.296,3m2 đất của vợ chồng ông Châu ở đây được xác lập mang tên bà Nguyễn Thị Năm, có số thửa 61, tờ bản đồ địa chính số 29.
Năm 2001, anh Phúc xây dựng gia đình riêng. Ông bà Châu - Năm lại đứng ra lo toan cho cháu và tiếp tục cho vợ chồng anh Phúc ở nhờ nhà tại Hà Khẩu. Ông Châu đầu tư 2 triệu đồng sửa lại nhà và đóng góp 1 triệu đồng cải tạo lưới điện khu dân cư.
Ngày 8-8-2003, anh Phúc yêu cầu, để tiện cho việc quản lý, trông nom tài sản và cả việc quan hệ với tổ dân cũng như tránh va chạm không cần thiết với số công nhân của XN Phúc Thành, ông Châu (có viết tay) một “Biên bản thống nhất việc giao nhận nhà, đất”, nội dung: “Ông Châu giao cho ông Phúc trên tinh thần chú giao cho cháu để ở. Vì vậy, ông Châu thu một phần tiền tài sản là 15 triệu đồng và 2 triệu đồng (tiền sửa nhà) + 1 triệu đồng (cải tạo đường điện). Do đó, ông Phúc không có quyền bán lại để thu lời hoặc chia cho người khác đến ở...”. Ngoài hơn 1.000m2 nhà và đất vườn, đất tạm dùng làm lối đi chung mà ông Châu giao ông Phúc tại thửa số 61, phần còn lại (diện tích 266m2), biên bản thoả thuận “giao ông Phúc kê khai và nộp thuế sử dụng. Khi nào ông Châu cần, ông Phúc tự nguyện trả lại...”. Đoạn cuối của biên bản ghi rõ “Toàn bộ đất đai, vườn đồi, lối đi chung, ông Châu giao ông Phúc quản lý hộ và đứng tên, cũng không được xây dựng các vật kiến trúc, hoặc sang nhượng cho người khác. Khi ông Châu cần làm việc gì, anh Phúc hoàn toàn trả lại như bản cam kết này”.
Tháng 3-2009, vợ chồng ông Châu thông báo cho cháu việc trả lại nhà, đất. Anh Phúc đã không chịu trả lại, mà “lật cánh” là “đã mua” từ năm 1994. Mâu thuẫn phát sinh. Tổ dân, khu phố và sau nữa là chính quyền địa phương nhiều lần họp giải quyết. Tại biên bản ngày 7-12-2010, UBND phường Hà Khẩu kết luận: “Hồ sơ, giấy tờ hai bên cung cấp không chứng minh được việc chuyển nhượng nhà và đất giữa ông Nguyễn Hải Châu và ông Nguyễn Đình Phúc. Đất và nhà là của ông bà Châu - Năm. Yêu cầu hai bên tự hoà giải theo hướng chia cho anh Phúc một phần, vì anh Phúc đã chuyển cho ông Châu số tiền 15 triệu đồng + 2 triệu đồng tiền sửa nhà + 1 triệu đồng tiền sửa điện. Nếu hai bên không nhất trí được thì khởi kiện đến Toà án yêu cầu giải quyết”.
Anh Phúc không theo hướng hoà giải. Đầu năm 2011, ông Châu, bà Năm kiện cháu đến TAND TP Hạ Long.
...Đến sự vô lý ở phiên Toà sơ thẩm
Bản án số 02/2011/DSST, ngày 15-4-2011 của TAND TP Hạ Long xác định đây là việc “Tranh chấp tài sản gắn liền với QSDĐ”. Toà cho rằng: “Năm 1994, ông Châu, bà Năm và anh Phúc thực hiện giao dịch mua bán nhà đất không thể hiện bằng văn bản (vì là tình chú cháu), nhưng bằng hành vi cụ thể...”. Đó là “Biên bản thống nhất giao nhận nhà đất (năm 2003) và số tiền 18.000.000 đồng vợ chồng ông Châu đã nhận. Chỉ có “xấp xỉ 266m2 ông Châu, bà Năm không bán mà nhờ anh Phúc trông coi. Khi cần, ông Châu, bà Năm lấy lại...
Hội đồng Xét xử đã căn cứ khoản 1, Điều 401, Điều 405, Điều 428 - BLDS cho là, “việc mua bán đã hình thành”..., qua hành vi cụ thể: Bà Năm không có khiếu nại gì về việc anh Phúc ở ổn định từ năm 1994 và đóng thuế sử dụng đất; giấy tờ này do anh Phúc cung cấp (bản gốc) để chứng minh việc mua bán là có thật; tiền anh Phúc giao, ông Châu bà Năm đã nhận đủ”(?). Toà còn khẳng định: “Tính thời điểm xác lập hợp đồng mua bán xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thì việc thực hiện hợp đồng mua bán mà các bên thoả thuận không cần phải có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, mà các bên có thể thoả thuận bằng văn bản viết tay, hay bằng miệng, nên đủ cơ sở chứng minh ông Châu, bà Năm đã xác lập hợp đồng mua bán với anh Phúc”.
Ngoài ra, Toà còn dẫn một số lời khai về việc mua, bán nhà đất của một số hộ dân ở khu vực này trong thời điểm (những năm 1994-1998) để khẳng định 15 triệu đồng anh Phúc đưa tiền cho ông Châu là trả đủ giá trị nhà, đồng thời “phủ định” chứng cứ ông Châu cung cấp là bản photo “Đơn trình báo về việc mất giấy tờ nhà, đất” (có xác nhận của CA phường Hà Khẩu từ năm 2004), với lập luận “chứng cứ này không có cơ sở, bởi lẽ, việc trình báo mất giấy tờ nhà đất phải là đơn gửi đến UBND, để có biện pháp đảm bảo quyền lợi công dân...” (chứ không phải là Cơ quan Công an)(?).
Bản án quyết định: “Không chấp nhận một phần đơn kiện của ông Châu, bà Năm” mà “Giao cho anh Phúc toàn bộ nhà, các công trình phụ trên diện tích 786,33m2 đất...; giao cho ông Châu, bà Năm sử dụng 471,97m2. Còn lại 56m2 dùng làm lối đi chung”.
Bản án Dân sự sơ thẩm số 02, của TAND TP Hạ Long đúng, sai như thế nào còn chờ ở phán quyết của cấp cao hơn. Nhưng những người quan tâm đến vụ kiện này thấy thật lạ, là việc vợ chồng ông Châu cho cháu ở nhờ nhà, có tính đến việc khấu hao và hưởng lợi từ tài sản, nay yêu cầu người ở nhờ trả lại (tức là đòi lại tài sản), sao Toà lại xác định là “tranh chấp”, khi chưa “rõ nét chứng cứ” đã khẳng định là có bán, mua(?).