"Chợ" tranh: Muôn mặt tranh “giả cầy”

Gọi là "chợ" mặc dù đây chính là hàng trăm gallery rải rác khắp nơi bày bán hàng trăm, hàng ngàn các bức tranh giả, tranh chép đủ loại màu sắc, đủ kích cỡ.

Gọi là "chợ" bởi lẽ ở nơi nào cũng lố nhố, nhộn nhạo những tay thợ chép tranh làm hàng giả với một tốc độ nhanh nhất để lấy tiền công và để cho ông chủ rao giảng lừa khách hàng.

Gọi là "chợ" cũng là do hàng ngàn khách du lịch dập dìu vào ra các gallery để chọn lựa, để chê bai, để mặc cả, rồi cuối cùng ôm về những bức tranh rởm, tranh chép cốt khoe với bàn dân thiên hạ về cái gọi là gu nghệ thuật cao siêu của mình.

cheptranh.jpg
Thị trường tranh ở Việt Nam hiện nay đúng với nghĩa là tự do. (Ảnh minh họa)

Vậy đó chẳng ai chịu quản cái "chợ" này cả, mặc cho hàng giả cứ phơi phới chặt chém thượng đế với mọi loại giá cả trên trời, chứ chẳng như loại hàng nọ hàng kia phải dán tem dán nhãn bảo hành. Nên có người nói rằng, bây giờ sướng nhất là cái anh kinh doanh tranh giả, lừa khách du lịch dễ như bỡn. Thật thế chăng?

Muôn mặt tranh “giả cầy”

Chẳng cứ là khách du lịch mà ngay cả những người chơi tranh bình thường ở Việt Nam cũng thích sưu tầm những tác phẩm đẹp, dù biết đó chỉ là tranh giả, nhưng phải là đẹp và đúng là họa sĩ mình thích thì vẫn mua.

Bắt được mạch của thị trường nên các chủ gallery chủ trương kinh doanh tranh giả đáp ứng nhu cầu sôi động này. Và họ đã thành công. Theo thống kê hiện ở Hà Nội có gần 120 cơ sở kinh doanh và TP. Hồ Chí Minh có tới 160 cửa hàng bán tranh giả. Hầu hết gần 300 gallery này bán tranh giả núp dưới danh nghĩa là tranh chép. Nếu xét kỹ ta có thể thấy muôn nẻo tranh giả đều từ cái gọi là “photocopy” tay mà thôi.

Loại thứ nhất là chép lại tranh của họa sĩ nổi tiếng nhưng chép cả chữ ký của tác giả rồi cứ thế bán. Loại thứ hai là chép cắt đoạn một tác phẩm của một họa sĩ nổi tiếng rồi ký tên khác. Loại thứ ba là chép tranh của người khác nhưng thêm bớt chi tiết hoặc màu sắc rồi ký mạo tên tác giả. Loại thứ tư là chép phong cách (vẽ nhái) theo một họa sĩ nổi tiếng rồi ký tên người chép. Loại thứ năm là chép tranh qua ảnh chụp (vẽ nguyên xi theo ảnh), loại thứ sáu là tranh chép (nhân bản) của chính họa sĩ với mục đích kinh doanh cùng với các gallery hoặc có họa sĩ cho người khác vẽ theo phong cách của mình rồi ký tên để biến bức tranh đó trở thành tác phẩm gốc.

Khảo sát thị trường tranh mới hay, các tác phẩm nổi tiếng quốc tế hay được sao chép nhiều nhất như: Van Gogh, Pablo Picasso, Leonardo da Vinci, Fernado Botero, Levitan, Dali, Ganguin. Các họa sĩ Việt Nam nổi tiếng cũng trở thành những món hàng vớ bở của hàng trăm Gallery.

Đó là tranh của Nguyễn Sáng, Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn... lớp họa sĩ đương đại nổi tiếng cũng bị chép nhiều như Đào Hải Phong, Thành Chương, Đỗ Quang Em, Lê Thiết Cương, Nguyễn Thanh Bình, Lê Thanh Sơn...

Tất nhiên tùy thị trường nơi mà các nhà kinh doanh định hướng chép tranh loại nào. Chẳng hạn như các phố Tây ba lô ở TP. Hồ Chí Minh như Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện, Đề Thám thì chép các họa sĩ quốc tế theo yêu cầu của khách hàng.

Khách du lịch ở khu phố này rất thích mua các tác phẩm như Nụ hôn (Klimt); Cậu bé và cái tẩu (Pablo Picasso); Mona lisa (Leonardo da Vinci) hoặc các tác giả Việt Nam thì chủ yếu là tranh Phố của Bùi Xuân Phái hoặc Thiếu nữ bên hoa huệ (Tô Ngọc Vân)...

Chủ nhân Gallery Nguyên Hoa Tươi (ở Phạm Ngũ Lão, Q1) kể: “Mỗi tháng cửa hàng bán gần 10 bức tranh chép sẵn và khá nhiều người chơi tranh đưa mẫu đến thuê chép. Đa phần là người nước ngoài”.

Vậy là với 160 cửa hàng tranh chép ở TP. Hồ Chí Minh với tốc độ bán trung bình như gallery Nguyên Hoa Tươi thì thị trường hội họa “giả cầy” quả là khá “xôm”.

Ngoài các loại tranh được khách du lịch ưa chuộng ở TP. Hồ Chí Minh, thị trường tranh chép ở Hà Nội cũng phong phú hơn đúng với nghĩa là nôi văn hóa của đất kinh kỳ. Các cửa hàng chép tranh tập trung chính ở khu vực phố cổ và họ cung cấp nhiều tranh quốc tế nổi tiếng khác và đặc biệt là các tranh của lớp họa sĩ trẻ Việt Nam.

Nói chung, chẳng cứ ở TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội mà thị trường tranh “luộc”  ở nhiều thành phố lớn khác cũng nhộn nhịp không kém. Tất nhiên các ông chủ kinh doanh này chẳng quan tâm tới công ước Berne quốc tế hay Quy chế bản quyền tác giả của Việt Nam.

Thị trường bị thả nổi?!

Thị trường tranh ở Việt Nam hiện nay đúng với nghĩa là tự do. Tự do vẽ. Tự do tiếp thị với nhiều hình loại. Tự do đặt giá. Tự do khai thác nguồn hàng và tự do làm băng hoại nền mỹ thuật Việt Nam. Cơn lốc thị trường tranh giả gây nên sự ức chế sức sáng tạo của các họa sĩ đương đại và gây nên sự u mê về thẩm mỹ của những người chơi tranh.

Không có lãi suất nào lớn hơn việc kinh doanh tranh giả. Các ông chủ trả công chép tranh cho các họa sĩ rẻ như bèo, nhưng lại bán tranh với giá cao gấp bội. Chính ông chủ một cửa hàng ở đường Nguyễn Thái Học - Hà Nội đã bộc bạch:

“Nếu mua tranh của các họa sĩ, người bán tranh chỉ kiếm được 25 đến 30% giá trị bức tranh. Nhưng nếu mua độc bản, sau đó sao chép, nhân bản để bán thì số tiền lãi sẽ thu được gấp bội”.

Rất nhiều bức tranh, người bán hàng có thể quay vòng được trong nhiều năm và doanh thu có thể lên tới hàng trăm triệu là chuyện thường. Vậy nên có chủ gallery trở thành đầu nậu khi tìm được bức tranh ăn khách thì mua đứt bản quyền và tìm được lượng khách hàng tiêu thụ thì sao chép hàng loạt. Đây là một kiểu đánh quả mà chẳng tốn xu thuế nào.

Giá bán thì khá tùy tiện 800.000đ đến 2.000.000đ cho các bức tranh chép, thích ứng với chất liệu, thể loại và kích thước. Hiện phổ biến các bức tranh này đều ở cỡ 60x80cm. Cũng có khi có bức ở Hà Nội chỉ bán 400.000đ thôi như bức Gemmes Couran Sur La Plaga của Picasso chẳng hạn, nhưng bán rất chạy vì nhiều người thích. Cũng với giá đó bức Tiệc rượu của Valazques chẳng bao giờ hết khách hỏi và là bức tranh có mức doanh thu rất cao.

Bên cạnh đó, tranh giả, tranh thật lẫn lộn nên nhiều cửa hàng đã bán tranh giả theo giá tranh thật để lừa những khách hàng kém hiểu biết, tạo ra sự lộn xộn làm mất uy tín đối với thị trường tranh quốc tế.

Đã có những cuộc kiện tụng và đòi tiền của khách hàng. Khi họ phát hiện ra mình mua phải tranh “đểu”. Thậm chí có thị trường đấu giá tranh quốc tế đã phát hiện ra tranh giả của Việt Nam nên đã bị tẩy chay. Ngay từ năm 1999, nhà đấu giá danh tiếng trên thế giới là Christine (Anh) đến thu hồi bức tranh giả mang tên Nguyễn Sáng và Bùi Xuân Phái.

Hơn nữa, chính vì thị trường bị buông lỏng như vậy nên các tranh chép từ Trung Quốc cũng đang từng bước “lấn sâu” thị trường tranh Việt Nam. Tranh của họ nhập với giá rẻ cùng với tác phẩm được chép như nhau. Tranh của họ lại bền màu với chất liệu khá hơn.

Câu chuyện sẽ còn trở nên tồi tệ hơn khi các nhà sưu tầm nghệ thuật chân chính quốc tế không còn biết diện mạo mỹ thuật hiện đại Việt Nam đang ở cấp độ nào. Mới đây, họa sĩ trẻ Trần Lương trong một cuộc phỏng vấn (5/1/2008, báo TT và VH) về nghệ thuật đương đại Việt Nam đã tâm sự:

“Sẽ mất thêm 10 năm nữa mới có cơ may cho nền mỹ thuật Việt Nam đương đại”.

Nói là 10 năm, họa sĩ Trần Lương hy vọng trên những cơ sở về xã hội, về tư tưởng và đội ngũ họa sĩ, nhưng với sự ẩm ương của thị trường tranh ở ta hiện nay không có phương cứu vãn thì di họa sẽ khó lường khi hàng trăm họa sĩ trẻ được đào tạo ra chỉ có một cách kiếm sống bằng cách hành nghề chép tranh.

Cách nào dẹp “di họa”

Thì cũng đã có quy chế sao chép tạo hình (quy chế) của Bộ VH - TT (cũ) rồi đấy. Và cũng đã tưởng có những đợt thanh tra để nhằm ngăn chặn sự nhiễu loạn thị trường tranh giả của hàng trăm cơ sở tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhưng rồi mọi việc vẫn y nguyên.

Quy chế ràng buộc rằng nhưng tranh chép bắt buộc phải ghi là tranh chép và không được mạo chữ ký tác giả. Và nếu tác giả còn sống thì phải xin phép mới được sao chép, kể cả các họa sĩ Việt Nam hay nước ngoài. Ngoại trừ những tác phẩm đã qua thời hạn bảo hộ (trên 50 năm).

Đồng thời phải bày riêng rẽ các loại tranh chép để người mua dễ phân biệt đâu là tranh thật và đâu là tranh giả... và cuối cùng là giá cả, lẽ dĩ nhiên quy chế khó có thể đặt ra một bảng giá cưỡng bức để khống chế được nên mọi chuyện mua bán vẫn là sự thỏa thuận miệng.

Mặc dù, những tác giả chép tranh bày triển lãm hoặc dự thi, khi bị phát hiện, cũng đã bị phạt như Lương Văn Trung hay Vũ Đức Toàn, nhưng  đó chỉ là cái “vảy muỗi” so với thị trường tranh giả tự do nhiễu loạn hiện nay. Hàng trăm kế sách của các ông chủ gallery nhằm vượt ra khỏi bộ khung của quy chế.

Họ tiếp thị tranh bằng nhiều phương tiện thông qua triển lãm, rao trên mạng, đấu giá ở nước ngoài, làm sao để lọt được những tranh giả mà khách hàng khó phát hiện. Đáng chú ý là dựa vào tâm lý khách hàng hay chọn mua tranh qua catalogue nên họ thường in lẫn lộn tranh giả xen kẽ với tranh thật để đánh lừa thị giác người mua.

Quy chế còn yêu cầu các họa sĩ cần phải đăng ký quyền tác giả của mình trước cơ quan pháp lý. Nhưng trên thực tế các tác phẩm của các họa sĩ còn sống vẫn ngang nhiên bị “làm thịt” mà chẳng làm sao ngăn chặn nổi. Hiện thị trường tranh ở nhiều thành phố lớn xuất hiện nhiều tác phẩm rởm tạo nên sự thất vọng cho những người sưu tầm tranh.

Xem ra thị trường tranh lậu này cũng khó kiểm soát như thị trường băng đĩa và sách lậu vậy. Nguyên nhân có lẽ nằm ở sự quản lý không chặt chẽ của các cơ quan pháp lý. Thi thoảng mới có đợt thanh tra, kiểm tra, rồi mọi sự đâu lại vào đấy. Phải chăng quy chế còn nhiều điều phải chi tiết hơn?  Hay người thực thi luật pháp phải tích cực hơn? Câu trả lời vẫn còn ở thì tương lai.

Cùng chuyên mục