Chủ động công tác phòng chống lụt bão

Quảng Ninh là tỉnh miền núi ven biển, 3/4 diện tích là đồi núi với rất nhiều sông suối lớn và vừa, lưu lượng nước về mùa lũ có thể lên tới hàng ngàn m3/s, biên độ lũ lên tới 15m. Xét về mặt địa hình Quảng Ninh giống như hình ảnh một nước Việt Nam thu nhỏ, chính vì vậy tất cả các hình thái thiên tai xảy ra trên đất nước thì Quảng Ninh đều có.

9

Công nhân Công ty TNHH Thành Thắng thi công nâng cấp đê Hà Nam từ đoạn K12-K15+500.                                                                               ảnh: PV

Trước hết nói về bão, tỉnh ta là nơi bão đổ bộ sớm nhất, cũng là nơi gió mùa Đông Bắc ra đi muộn nhất. Bão chính vụ thường vào tháng 7, 8, trung bình hàng năm có 2-3 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp với tốc độ gió có thể đạt tới cấp 12, trong và sau bão thường có mưa lớn gây lũ và lũ quét ở các vùng miền núi ngập lụt khu vực ven biển. Qua theo dõi hầu như năm nào trên khu vực vịnh Hạ Long cũng xảy ra lốc xoáy và mưa đá, nhẹ thì làm lật thuyền, nặng thì gây chết người. Trong vòng 10 năm trở lại đây lốc xoáy đã làm chết khoảng 50 người, nhiều tài sản của Nhà nước và nhân dân bị phá huỷ. Do đặc điểm tự nhiên như vậy nên công tác phòng chống lụt bão ở tỉnh ta phải căng ra trên tất cả các mặt trận. Cũng do thời tiết diễn biết bất thường nên chế độ trực ban phòng chống lụt bão phải duy trì nghiêm ngặt suốt từ đầu mùa mưa bão đến hết năm.

Có thể nói khả năng phòng chống lụt bão các công trình cơ sở hạ tầng của tỉnh nhìn chung là đáp ứng được yêu cầu phòng chống bão ở cấp trung bình. Về hạ tầng thuỷ lợi, được sự quan tâm của Trung ương những năm qua tỉnh ta đã đầu tư xây dựng hệ thống công trình thuỷ lợi khá hoàn chỉnh trên hầu hết các huyện, thị xã, thành phố. Toàn tỉnh có 53 hồ chứa nước lớn, nhỏ với tổng dung tích khoảng 300 triệu m3, 38 đập dâng, 13 trạm bơm, ngoài ra còn hàng trăm đập phai tạm, nhiều trạm bơm nhỏ khác. Các hồ chứa nước lớn và vừa (chứa từ 10 triệu m3 nước trở lên) có khả năng phòng chống lũ tương đối tốt, tuy nhiên các hồ chứa nhỏ phần lớn do xây dựng từ lâu, đều đang bị xuống cấp nên khả năng chống lũ hạn chế. Các đập dâng  xây dựng kiên cố trên sông, suối có khả năng chống lũ tốt, nhiều năm nay chưa có đập nào thuộc loại này bị trôi khi lũ lớn về nhưng các đập bán kiên cố, đập thời vụ thường bị hỏng khi mùa mưa lũ lớn về. Hệ thống đê điều do hình thành từ lâu đời, hàng năm nhân dân đắp bồi trúc thêm nhưng chủ yếu đắp bằng thủ công. Trước đây hầu hết các tuyến đê sử dụng tổng hợp đều thấp về cao trình, nhỏ về mặt cắt, mức đảm bảo an toàn thấp. Trong giai đoạn 1996-2002, Dự án PAM 5325 đã đầu tư 85 tỷ đồng để nâng cấp 116 km đê, xây kè, làm mới một số cống tiêu, cùng với đó tỉnh cũng đầu tư khoảng 80 tỷ đồng nâng cấp một số tuyến đê xung yếu ở Hoành Bồ, Đầm Hà, Hải Hà, Móng Cái nên hệ thống đê biển của tỉnh ta được cải thiện rõ rệt. Mức đảm bảo an toàn của nhiều tuyến đê được nâng lên, sản xuất, sinh hoạt của người dân trong vòng đê được đảm bảo chắc chắn. Nhằm nâng cấp hệ thống đê các tỉnh ven biển từ năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình đầu tư củng cố, bảo vệ nâng cấp đê biển hiện có của các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam. Theo chương trình này tỉnh ta có 160 km đê được nâng cấp, trong đó nâng cấp 34 km đê biển Hà Nam (Yên Hưng) còn lại là các địa phương khác. Trong 2 năm (2006-2007) Trung ương đã đầu tư cho tỉnh 60 tỷ đồng để nâng cấp gần 4 km đoạn đê xung yếu nhất trên tuyến đê biển Hà Nam. Năm 2006, đã hoàn thành nâng cấp gần 1 km, năm nay các đơn vị đang khẩn trương triển khai thi công nâng cấp tiếp 2,7 km dự kiến cuối tháng 9-2007 sẽ hoàn thành. Ngoài tuyến đê biển Hà Nam tỉnh đang chỉ đạo các địa phương tích cực thi công nâng cấp tuyến đê biển Bắc Cửa Lục (Hoành Bồ), Hải Xuân (Móng Cái), phấn đấu cuối tháng 6 hoàn thành cơ bản các vị trí xung yếu. Trong công tác phòng chống lụt bão của tỉnh ta hiện nay có một vấn đề cần đặc biệt quan tâm đó là đảm bảo an toàn cho ngư dân và hạ tầng ngư nghiệp. Tỉnh hiện có 7.046 tàu, thuyền; 5.800 lồng bè nuôi cá trên biển; 2-3 vạn người thường xuyên làm ăn sinh sống trên biển. Những năm gần đây việc quản lý tàu thuyền khi có bão được quan tâm hơn, song so với yêu cầu chung thì chưa đáp ứng được. Các địa phương không nắm rõ được số lượng tàu thuyền và ngư dân của địa phương mình, vì vậy khi có bão chỉ báo cáo chung chung là đã thông tin bão và tàu thuyền đã về nơi trú ẩn an toàn nhưng không có số liệu cụ thể. Ngoài ra hiện nay các công trình xây dựng dân dụng chưa quan tâm đến an toàn trong trường hợp có bão lớn đổ bộ vào chưa đề cập đến việc chống gió lốc trong thiết kế xây dựng.

Chuẩn bị cho công tác phòng chống lụt bão năm 2007, tỉnh đã kiện toàn lại Ban Chỉ huy PCLB&TKCN từ tỉnh xuống các địa phương, xây dựng phương án phòng chống lụt bão năm nay. Vật tư dự trữ phục vụ cho công tác phòng chống lụt bão đến nay đã có 13.582 m3 đá hộc, 105.487 bao tải, 3.735 kg rọ thép. Trước mùa mưa bão các thành viên Ban chỉ huy PCLB&TKCN tỉnh đã đi kiểm tra các công trình thuỷ lợi và yêu cầu khẩn trương đẩy nhanh tiến độ thi công nâng cấp đê kè đảm bảo an toàn trong mùa mưa bão. Do diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp và không theo quy luật, sức người thì nhỏ bé trước sức mạnh của thiên nhiên vì vậy công tác chuẩn bị dù chu đáo đến đâu cũng là chưa đủ. Đã vào mùa mưa bão vì vậy các địa phương, ngành có liên quan cần tổ chức trực ban chặt chẽ, căn cứ diễn biến tình hình thực tế để có chỉ đạo kịp thời. Bên cạnh đó cần tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao khả năng tự vệ của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi khu dân cư để hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.

Cùng chuyên mục