Các tiết mục của Đoàn nghệ thuật Quảng Ninh tham gia Ngày hội văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc tại TX Hà Giang vừa qua đã giành được sự quan tâm của đông đảo người xem. Chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với chị Đinh Thuỳ Vương, Giám đốc Trung tâm Văn hoá Thông tin tỉnh Quảng Ninh, xung quanh vấn đề bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc...
- Là người chỉ đạo, dàn dựng chương trình và từng tham gia Ngày hội từ lần đầu tiên tới nay, cảm nhận của chị về văn hoá các dân tộc Quảng Ninh so với các tỉnh khác trong vùng Đông Bắc như thế nào?
+ Chúng ta biết rằng các dân tộc sinh sống trong vùng Đông Bắc phổ biến là Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Chỉ, Sán Dìu... Trong mỗi dân tộc, dù ở cách xa về địa lý, thì vẫn có những nét tương đồng về phong tục, tập quán, tiếng nói, phương thức sinh sống. Tuy nhiên, vẫn có sự khác nhau theo vùng, miền. Ví dụ như người Tày ở Thái Nguyên, Cao Bằng có làn điệu hát then và cách sử dụng cây đàn tính 3 dây khác người Tày ở Bình Liêu ta sử dụng đàn tính 2 dây. Hay cũng là người Dao nhưng dân tộc Dao Thanh Y khác Dao Thanh Phán, khác với Dao Đỏ, Dao Tiền...
Tuy nhiên, cái làm nên sự khác biệt chung về văn hoá của Quảng Ninh so với các tỉnh bạn trong vùng Đông Bắc là yếu tố văn hoá biển, được hình thành, tồn tại qua hàng ngàn năm. Tiêu biểu như các lễ hội Tiên Công ở Hà Nam (Yên Hưng), lễ hội bơi thuyền truyền thống ở Quan Lạn (Vân Đồn) hay lễ hội đình Trà Cổ (Móng Cái), mà Ngày hội văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ IV (năm 2004) chúng tôi đã giới thiệu...
- Thế còn lần này thì sao, thưa chị? + Theo chủ trương của Bộ Văn hoá Thông tin thì Ngày hội văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ V này, cần tập trung tôn vinh giá trị văn hoá các dân tộc thiểu số. Do vậy, chúng tôi xây dựng chương trình trên tinh thần chỉ đạo đó. - Và những tiết mục lần này chúng ta đưa đi trình diễn là những nét văn hoátiêu biểu của đồng bào dân tộc thiểu số ở Quảng Ninh chưa? + Có thể nói việc chúng ta tổ chức Ngày hội văn hoá các dân tộc tỉnh Quảng Ninh lần thứ II cuối năm 2005 đã mang lại những kết quả lớn không ngờ. Từ đó, chúng tôi đã phát hiện rất nhiều các giá trị văn hoá đặc sắc tồn tại trong đời sống sinh hoạt thường ngày của đồng bào dân tộc thiểu số, mà bấy lâu nay chưa được phổ biến, giới thiệu. Những cái chúng tôi chọn giới thiệu trong Ngày hội lần này bao gồm hát giao duyên dân tộc Sán Chỉ (Tiên Yên), trình diễn trang phục các dân tộc Tày ở Bình Liêu, lễ “cầu mùa” của người Dao Thanh Y xã Bằng Cả (Hoành Bồ); v.v. Tuy nhiên, chưa phải là những gì tiêu biểu nhất trong kho di sản văn hoá vô giá mà chúng ta hiện có. Mặt khác, vì là để trình diễn nên ít nhiều chúng tôi đã nâng lên thành nghệ thuật. Song, dẫu thế nào thì yếu tố nguyên gốc vẫn được đặt lên hàng đầu, từ lời ca, điệu múa, nghi lễ và nhất là trang phục truyền thống. - Chị vừa nói đến “kho di sản văn hoá vô giá”. Vậy theo chị những năm qua chúng ta đã làm tốt công tác bảo tồn và phát huy nó chưa? + Tôi xin nói là chưa! Quảng Ninh chúng ta có 14 dân tộc anh em sinh sống, tức là bằng 2/3 số lượng so với Hà Giang (22 dân tộc- PV). Tuy nhiên, xét về các giá trị lịch sử, văn hoá và các giá trị khác thì không thể nói là hơn hay kém, bởi có những cái chúng ta có mà Hà Giang không có và ngược lại. Từ trước tới nay, việc bảo tồn, gìn giữ và nhất là phát huy các giá trị của kho di sản quý báu này ở tỉnh ta vẫn cơ bản chỉ dừng ở nghiên cứu. Thậm chí ngay tới việc xuất bản thành sách để phổ biến cũng rất hạn chế. Quảng Ninh được coi như là một tỉnh du lịch trọng điểm của cả nước. Du khách tới Quảng Ninh cũng như đến với bất cứ nơi nào, họ đều muốn tìm hiểu bản sắc văn hoá của vùng đất, con người mà họ đặt chân tới. Văn hoá hiện đại tất nhiên là cần thiết nhưng không phải là bản sắc. Có những dịp đi dự Ngày hội như thế này, ngẫm lại những cái chúng ta có mà chưa phát huy được, tôi thấy tiếc vô cùng. - Vậy theo chị đâu là nguyên nhân? + Tôi nghĩ rằng nguyên nhân chính là do sự quan tâm đến việc bảo tồn, lưu giữ và phát huy các di sản này của chúng ta, nghiêm túc mà nói, vẫn còn hạn chế. Nếu được quan tâm đầu tư hiệu quả thì đây sẽ vừa là những sản phẩm phục vụ cho du lịch, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội chung của địa phương mà nhân dân cũng thấy rõ hơn về chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết T.Ư 5 (Khoá VIII) của Đảng đã đề ra. - Theo chị, liệu chúng ta có thể xây dựng các làng văn hoá du lịch như ở Mai Châu (Hoà Bình) hay các bản người Thái ở Sơn La không? + Tôi nghĩ là hoàn toàn có thể. Các địa điểm thuận lợi cho việc này có thể tìm thấy ngay ở Hoành Bồ, Tiên Yên, Bình Liêu, Hải Hà v.v. nơi có các đồng bào dân tộc sinh sống và có bản sắc văn hoá truyền thống lâu đời. - Trong đoàn nghệ thuật của tỉnh tham gia Ngày hội lần này có các nghệ nhân, diễn viên là người dân tộc đến từ Hoành Bồ, Tiên Yên, Bình Liêu. Chị thấy cảm nhận của họ ra sao? + Tất cả mọi người đều rất phấn khởi, tự hào vì có dịp giới thiệu văn hoá của dân tộc mình, thêm vào đó họ còn được giao lưu với các dân tộc anh em khác. Đây cũng là mục đích mà Ban tổ chức đặt ra từ đầu. - Được biết, Ngày hội văn hoá các dân tộc lần thứ VI sẽ được tổ chức tại tỉnh Bắc Giang vào năm 2008. Theo chị, chúng ta sẽ giới thiệu những nét văn hoá đặc sắc nào khác? + Chúng tôi đã có ý tưởng cho lần sau, bởi đó là dịp kỷ niệm 10 năm tổ chức Ngày hội lần đầu tiên (1998-2008). Sau dịp này, chúng tôi sẽ xuống làm việc với các địa phương để sự chuẩn bị được kỹ càng hơn, nhất là về lực lượng. Đáng tiếc là lần này, chúng tôi mang đi không nhiều đặc sản mực khô, sá sùng, rượu ba kích... Trong khi rất nhiều đồng bào và du khách tìm đến gian hàng triển lãm ẩm thực của Quảng Ninh để thưởng thức và hỏi mua mà không có đủ để đáp ứng. - Xin cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này!
Để làm được, tôi nghĩ tỉnh cần có một đề án quy hoạch bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, làm cụ thể ở từng địa phương tuỳ theo đặc trưng của địa phương đó. Làm tới đâu ta gắn với du lịch tới đó. Tất nhiên muốn vậy, cần có sự quan tâm của cấp uỷ Đảng, chính quyền từ tỉnh tới huyện, xã. Bên cạnh đó, cấp huyện nên chăng cần tổ chức ngày hội văn hoá - thể thao các dân tộc theo chu kỳ 2 năm/lần, tiếp đó là cấp tỉnh và gắn với dịp tổ chức kỷ niệm Ngày Di sản Văn hoá Việt Nam (23-11) cho thêm ý nghĩa. Việc tổ chức thành công Ngày hội văn hoá các dân tộc tỉnh Quảng Ninh lần thứ II năm 2005, sau 15 năm gián đoạn. cho thấy sự cần thiết phải duy trì nó thành định kỳ...