Trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế thì Quảng Ninh đặc biệt chú trọng tới vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn nhằm nâng cao tỷ lệ người dân ở nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, đảm bảo môi trường trong sạch.
Một hộ dân ở xã Quảng La (Hoành Bồ) được đầu tư hệ thống nước tự chảy đảm bảo sinh hoạt hợp vệ sinh.
Bằng nguồn vốn của nhà nước và vốn đối ứng của nhân dân, thông qua Chương trình mục tiêu Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Quảng Ninh đã đầu tư xây dựng nhiều công trình cấp nước tập trung phù hợp với đặc điểm từng vùng có công suất 120 đến 140m3/ngày. Các địa bàn được thụ hưởng chương trình này hầu hết là những vùng khó khăn như các xã Nam Hoà, Phong Hải (Yên Hưng), Đồng Tâm (Bình Liêu), Mộc Bài, Đài Xuyên (Vân Đồn), Vạn Ninh (Móng Cái), Quảng La (Hoành Bồ)... Tổng số vốn đầu tư của chương trình trên 80 tỷ đồng. Chỉ tính riêng năm 2009, Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Quảng Ninh đã đầu tư xây dựng 1.211 công trình bao gồm các hệ thống cấp nước tập trung bằng bơm dẫn, hệ thống cấp nước tự chảy, giếng đào và các bể nước mưa... Qua đó, có thêm 472.487 người ở khu vực nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh góp phần nâng tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch ở khu vực này đạt 80%. Số hộ có công trình nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 67%. Công tác giám sát đánh giá chất lượng nước được Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn được thực hiện thường xuyên. 100% các trạm cấp nước tập trung bằng bơm dẫn và hệ thống cấp nước tự chảy đều được kiểm tra chất lượng nước định kỳ 6 tháng/lần.
Tuy nhiên, việc duy trì hoạt động bền vững của các trạm cấp nước hiện nay rất khó khăn. Các trạm cấp nước tập trung bằng bơm dẫn do thiếu kinh phí bởi nguồn thu từ dịch vụ chỉ đủ để duy trì cho việc trả lương, tiền điện, hoá chất khử trùng nên chưa có kinh phí cho việc duy tu, bảo dưỡng và tích luỹ để khấu hao, tái đầu tư sản xuất. Đối với các công trình tự chảy nhỏ phục vụ cho 5-0 hộ dân việc xử lý nước mới dừng lại ở công đoạn lọc thô. Nguồn nước chưa được khử trùng, đối tượng phục vụ chủ yếu là đồng bào miền núi nên công tác quản lý công trình còn hạn chế. Thêm vào đó, mặc dù các công trình nhỏ lẻ phát huy hiệu quả nhanh, cung cấp nước cho khoảng 40% dân số nông thôn hiện nay nhưng giá thành xây dựng cao, chất lượng nước khó kiểm soát. Đặc biệt, tình hình ô nhiễm nguồn nước mặt hiện nay ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giếng đào. Bên cạnh đó, tổng vốn đầu tư huy động của Chương trình mục tiêu Quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn chưa đáp ứng được nhu cầu, cơ cấu phân bổ chưa hợp lý. Ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung hỗ trợ các vùng khó khăn và xây mới các công trình, ít đầu tư cho truyền thông và đào tạo nâng cao năng lực, nâng cấp sửa chữa công trình.
Đồng chí Phạm Minh Tân, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Quảng Ninh cho biết: Năm 2010, phấn đấu tỷ lệ dân số nông thôn có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh tăng thêm từ 3 đến 5% so với năm 2009. Để đạt được mục này, Trung tâm đã đề xuất với tỉnh cho nâng công suất các trạm bơm lên từ 50 đến 100m3 nước/ngày; khai thác nước mưa trên các đảo thuộc huyện Cô Tô, Vân Đồn. Đồng thời xây mới các bể chứa nước mưa... Vận động nhân dân đầu tư và giữ gìn tốt các công trình cấp nước, chủ động xây dựng các công trình nhà tiêu, chuồng trại của gia đình; tích cực tham gia bảo vệ nguồn nước và giữ vệ sinh chung trong cộng đồng dân cư.