Việc thực hiện các chương trình mục tiêu Quốc gia trên địa bàn tỉnh trong những năm qua, đặc biệt là giai đoạn 2005-2007 đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần tạo nên bước phát triển mới cho các địa phương với tốc độ nhanh và ổn định, nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người...
Bổ sung cơ sở hạ tầng
Vấn đề xây dựng, cải tạo và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng (điện, đường, trường, trạm) tại các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc gặp rất nhiều khó khăn do địa hình hiểm trở, cách xa trung tâm, chưa kể nhận thức của nhân dân khu vực này cũng chưa cao vô hình chung đã tạo thành những rào cản lớn. Chuyện các em học sinh đến tuổi đi học ở những xã vùng sâu, vùng xa của tỉnh đi bộ gần nửa ngày mới tới trường hay chuyện bà con dân bản quanh năm suốt tháng với nỗi lo nước sinh hoạt (chưa nói đến nước sạch) lâu nay không còn là chuyện lạ. Và chính bởi những chuyện “không còn lạ” này mà khoảng cách giữa miền xuôi và miền ngược ngày càng lớn. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, trong những năm vừa qua, nguồn vốn của các Chương trình Mục tiêu Quốc gia (MTQG) dùng cho việc phát triển cơ sở hạ tầng đã được tỉnh hết sức quan tâm. Trong 3 năm (từ 2005 đến 2007) tổng kinh phí đầu tư từ các chương trình dự án thuộc chương trình MTQG gần 345 tỷ đồng, trong đó: Đầu tư cho giáo dục là: 82,2 tỷ đồng; y tế: 31,5 tỷ đồng, số còn lại thuộc các lĩnh vực khác. Đến nay hầu hết tại các xã vùng sâu, vùng xa đều có các lớp học tập trung cho các em học sinh tiểu học, không còn tình trạng học sinh đủ tuổi nhưng không đi học. Từ nguồn vốn của các chương trình MTQG cho ngành Giáo dục mà nhiều trường học liên cấp được xây dựng khang trang với những trang thiết bị học tập khá đầy đủ. Tại các trường liên cấp còn xây dựng thêm khu nhà bán trú cho học sinh với mức hỗ trợ (mới nhất) là 140.000 đồng/học sinh/tháng nhằm tạo điều kiện cho các em học tập dễ dàng hơn. Nhiều tuyến đường liên thôn, liên xã đã được nối như: liên thôn Tân ốc-Phủ Liễu xã Đồng Sơn (Hoành Bồ); đường thôn Điền Xá (Vân Đồn); công trình đường xã vùng biên Bắc Sơn (Móng Cái)... vừa giúp cho nhân dân các vùng trên đi lại dễ dàng, thuận tiện hơn vừa tạo điều kiện để thông thương trao đổi hàng hoá nhanh chóng giữa các vùng, miền. Hệ thống lưới điện và trạm xá cơ bản cũng đã được đầu tư tại hầu hết các thôn, xã. Vấn đề nước sinh hoạt nông thôn từng bước được cải thiện. Tính đến nay, 75% người dân sống ở nông thôn đã có nước sinh hoạt để sử dụng (năm 2005 chỉ có 64%). Tại các thôn, bản đều có bể nước tập trung được xây dựng kiên cố, đảm bảo phục vụ nước sinh hoạt cho nông dân, tránh tình trạng “lúc thừa, lúc thiếu” vào mùa mưa và mùa khô như trước đây.
Phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo
Đi đôi với việc nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng, giảm thiểu khó khăn về đi lại và sinh hoạt cho người dân, những năm qua, nhờ nguồn vốn từ các chương trình MTQG nhiều địa phương trong tỉnh đã giúp người dân xoá đói, giảm nghèo rất hiệu quả. Từ năm 2005-2007, tỉnh ta đã tiếp nhận và điều động được một bộ phận lớn lao động trong và ngoài tỉnh ra các vùng biên giới để vừa khai hoang phục hoá vừa phát triển sản xuất gắn với củng cố an ninh quốc phòng. Do đó đã đưa gần 200 ha đất hoang hoá vào sản xuất nông nghiệp. Nhiều nơi trước đây là vùng “trắng” không có dân cư, khi tổ chức đưa dân đến lập nghiệp đã cơ bản chấm dứt tình trạng xâm canh, xâm cư và nay trở thành những vùng kinh tế phát triển như: Hải Sơn, Bắc Sơn (Móng Cái); Hoành Mô, Đồng Văn (Bình Liêu); Quảng Đức (Hải Hà). Điển hình như mô hình trồng cây dưa hấu tại xã Hải Sơn (Móng Cái) với 4 hộ trồng thí điểm, bước đầu đã cho kết quả khá tốt; Năng suất đạt 18 tấn/ha (650 kg/sào); giá trị thu được 36 triệu đồng/ha (trừ chi phí mỗi ha lãi từ 20-24 triệu đồng). Các mô hình sản xuất có hiệu quả dần được hình thành ở vùng nông thôn, miền núi, trong đó đáng chú ý là mô hình nuôi ba ba, nuôi nhím triển khai ở huyện Hoành Bồ; mô hình chuyển đổi cơ cấu mùa vụ ở Ba Chẽ và mô hình nuôi bò ở huyện Đầm Hà... Nhờ nguồn vốn phát triển sản xuất của các chương trình mục tiêu mà đến nay trên 80% hộ nghèo tại huyện Hải Hà đã được tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất. Huyện cũng cơ bản xoá nhà dột nát cho các hộ nghèo, giúp người dân an cư lạc nghiệp. Không dừng lại ở đó, từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất đã giúp cho nhân dân một số vùng như Quảng Đức, Quảng Sơn (Hải Hà); Bản Sen (Vân Đồn); Đại Dực, Phong Dụ (Tiên Yên)... có điều kiện mua máy móc, thiết bị phục vụ cơ giới hoá đồng ruộng và chế biến nông, lâm sản, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn khu vực miền núi.
Vẫn còn những vướng Mắc cần giải quyết...
Bên cạnh những mặt đã làm được như trên, do mục tiêu của các chương trình đặt ra khá rộng, đòi hỏi phải có thời gian công sức, tiền vốn lớn và sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành mới giải quyết được. Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, từ năm 2005 đến nay tỉnh chưa có sơ kết, kiểm điểm tình hình thực hiện các chương trình mục tiêu trên địa bàn. Ngoài ra, với nguồn vốn bố trí hàng năm cho các dự án như hiện nay còn hạn hẹp, không đủ cho hoạt động của dự án để thực hiện các mục tiêu đề ra. Công tác thẩm định, phê duyệt các dự án mất nhiều thời gian, giảm tiến độ các công trình, một số công trình được đầu tư nhưng hiệu quả thu lại chưa cao (chủ yếu tập trung vào một số công trình khu vui chơi trẻ em và xây dựng nhà văn hoá xã). Công tác giải ngân chậm, tập trung nhiều vào cuối năm gây khó khăn cho địa phương trong việc giải quyết thanh toán.
Để đánh giá thực trạng tình hình, kết quả và hiệu quả thực hiện các chương trình, dự án đầu tư bằng nguồn vốn chương trình MTQG trong 3 năm (từ 2005 đến hết tháng 6-2007), ngày 5-9-2007, HĐND tỉnh đã có Quyết định thành lập Đoàn giám sát chương trình MTQG. Trên cơ sở kiểm tra của Đoàn giám sát, rất nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện các chương trình đã được chỉ ra cụ thể. Đồng chí Vũ Minh Thiết, Thường trực HĐND tỉnh, Phó Đoàn Giám sát chương trình MTQG cho biết: Sau đợt giám sát, đoàn sẽ tổng hợp thành văn bản trình UBND tỉnh những kiến nghị của các sở, ngành và địa phương; kịp thời tham mưu cho lãnh đạo tỉnh điều chỉnh một số cơ chế, chính sách giúp cho địa phương chủ động hơn trong việc đầu tư và phát huy hiệu quả các công trình. Bên cạnh đó là việc tăng cường sự liên kết giữa các sở, ngành và địa phương được thụ hưởng nguồn vốn từ chương trình MTQG để làm tốt vai trò quản lý. Và để hoàn thành những MTQG trong thời gian tới, rõ ràng chúng ta vẫn còn rất nhiều việc cần làm...