Chuyện của người đi sưu tầm văn hóa dân gian

Trong hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể thì việc đi điền dã, sưu tầm văn hóa dân gian là công việc khởi đầu nhưng góp phần rất quan trọng vào thành quả cuối cùng của dự án. Dù vậy, đây lại là công việc khá thầm lặng của những người làm văn hóa...

Chuyện của người đi sưu tầm văn hóa dân gian ảnh 1
Thạc sĩ văn hóa Cao Đức Bình (thứ tư, phải sang) trong một chuyến điền dã sưu tầm văn hóa tại Bằng Cả (Hoành Bồ).

Dạo này, mỗi khi tôi gọi điện cho thạc sĩ văn hóa Cao Đức Bình, một cán bộ văn hóa kỳ cựu của tỉnh, thì ông đều cho biết, đang ở Hoành Bồ để làm về dự án xây dựng thôn văn hóa Chín Gian ở Bằng Cả. Dự án hiện đang triển khai sưu tầm một số giá trị văn hóa phi vật thể của người Dao Thanh Y nơi đây v.v... Gặp ông sau một chuyến đi thì được biết, mỗi tuần ông hầu như đều phải vào Hoành Bồ mấy ngày để theo dõi dự án. Hỏi ông sao không thực hiện liền một mạch mà cứ đi đi, về về như thế, ông cho hay: "Người dân nơi đây có khá nhiều nghề phụ để làm thêm ngoài trồng trọt, chăn nuôi và làm rừng với thu nhập khá cao, có khi đến mấy trăm ngàn/ngày. Còn tiền hỗ trợ khi họ ở nhà hát, múa hay cung cấp tư liệu cho mình thì chỉ được mấy chục nghìn theo quy định thôi. Vì vậy, nếu bảo họ phải ở nhà phục vụ cho việc sưu tầm văn hoá thì có lẽ không ổn. Không thể lấy giá trị văn hoá mà ép buộc họ được. Ngay cán bộ xã cũng thế, đừng tưởng thứ bảy, chủ nhật họ rỗi rãi. Thật ra, ngày thường dù ít việc thì họ vẫn phải quanh quẩn trực ở xã để nếu có việc gì còn giải quyết. Vì vậy mà ngày nghỉ họ thường tranh thủ giải quyết các công việc của gia đình nên càng không thể giúp mình được. Vậy đấy, cứ theo tư duy thông thường khó mà được việc...".

Nghe ông kể chuyện, tôi chợt hiểu, thật khó để có thể bắt người dân phụ thuộc theo lịch đặt ra của người đi sưu tầm văn hóa, mà ngược lại còn phải... phụ thuộc vào họ. Còn nhớ, mấy năm trước đây, ông từng kể cho tôi nghe chuyện đi làm dự án phục dựng, bảo tồn và phát huy nghệ thuật hát giao duyên của ngư dân làng chài Cửa Vạn trên Vịnh Hạ Long. Bình thường, ngư dân làm nghề chài lưới, vào vụ thu hoạch sứa họ rất bận, thu nhập cũng rất cao. Những dịp ấy, ông lại quay về bờ làm việc khác, đợi qua vụ mùa, khi ngư dân thảnh thơi hơn mới đến...

Tìm được thời điểm thích hợp để tiếp cận họ là một lẽ, tìm ra các nghệ nhân am hiểu cũng cần có những kinh nghiệm nhất định. Kể lại chuyện đi sưu tầm hát nhà tơ ở Vân Đồn, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Tống Khắc Hài khẳng định: "Nghệ nhân cũng không dễ tìm, nhất là nghệ nhân giỏi nghề nếu đã lâu họ không còn hát hay diễn nữa thì rất ít người biết. Cần tìm dựa vào lời kể của các bà già, chỉ cần hỏi họ ngày xưa ai hát nhà tơ ở đây hay nhất thì thế nào họ cũng kể được vài người. Mình từ đó đi tìm mới ra... Chứ nói thật, có khi chính con cái còn không biết mẹ mình từng hát và là một giọng hát nổi tiếng ngày xưa. Hỏi họ, họ bảo, chưa bao giờ thấy mẹ hay bà mình hát, nhưng qua lời kể, tìm đến các bà hỏi, các bà thừa nhận ngay: "Đúng là ngày xưa tôi có hát nhà tơ...!". Ông chia sẻ thêm về kinh nghiệm hồi đi sưu tầm ca dao vùng biển: "Chúng tôi phải "ba cùng" với bà con. La cà, ngồi với các bà già ở quê khéo léo gợi chuyện họ mới nói, nếu cứ hỏi các câu ca dao về đề tài này nọ chẳng hạn hay bảo họ ghi chép ra thì họ bảo họ chẳng nhớ, chẳng biết câu nào nhưng nếu bảo, các câu ví vặt thường ngày của các bà ấy thì họ khác ngay, họ bảo: "Ôi, tưởng gì chứ thế thì nhiều. Thế là họ vừa làm vừa đọc ra các câu ca dao, người nọ đọc một câu, người kia đọc một câu, mình tranh thủ ghi chép được rất nhiều câu hay...”.

Nghe ông Hài kể chuyện, tôi lại nhớ lần trò chuyện với các nghệ nhân hát nhà tơ ở Vạn Ninh (Móng Cái). Tôi đề nghị các bà hát một vài đoạn, bà Hoàng Thị Thảo hát vài câu rồi nói: "Ở đây, tôi chỉ hát thế thôi chứ khi tham gia các lễ hội ở đình, hát mấy ngày đêm cũng không hết các làn điệu đâu. Nhưng lúc ấy thì cứ hát đến đâu, nhớ đến đấy chứ ngồi đây thế này, nhớ không hết được...". Nghĩa là, những tư liệu văn hoá dân gian ấy thường ẩn trong các nghệ nhân, cần có không gian, có sự gợi mở mới bật ra được...

Đó là với các nghệ nhân người Kinh, còn khi vốn văn hoá dân gian ấy nằm trong cộng đồng người dân tộc thiểu số thì ngôn ngữ bất đồng lại là thách thức không nhỏ. Ông Bình cho hay, tìm hiểu về các nghi lễ truyền thống của người dân tộc thiểu số thì thầy mo, thầy cúng là đối tượng rất quan trọng. Họ giữ các loại sách ghi chép đầy đủ về những nghi lễ nhưng không phải lúc nào họ cũng sẵn sàng cho mượn đâu. Vì vậy, có lần, ông phải chở luôn ông thầy cúng đi mấy chục cây số từ xã ra thị trấn cầm theo quyển sách để phôtô. Mà có sách rồi dịch ra được tiếng Việt cũng là cả một vấn đề. Việc sưu tầm những câu chuyện cổ của người dân tộc thiểu số cũng vậy. Bảo họ kể lại bằng tiếng Kinh, họ cứ bảo, từ này, từ kia văn vẻ khó nói lắm, chỉ có bảo họ tóm tắt đại ý câu chuyện kể về cái gì thì họ còn nói được. Vậy lại phải kỳ công tìm người dịch. Ông Bình phân tích: "Người thạo nói cả hai thứ tiếng Kinh, tiếng dân tộc thiểu số đã ít, thạo để dịch các văn bản càng ít hơn. Nhờ họ, họ cứ chối bảo khó dịch lắm, thường là sẽ phải tìm những ông thầy cúng thạo chữ, dịch tốt để giúp mình. Nhưng họ hay đi xa lắm, không chỉ đi trong xã, trong huyện, họ đi cả tỉnh ngoài, có khi cả tuần mới về. Và mình thì phải... đợi thôi!".

Có lẽ, những người làm văn hóa có rất nhiều cách khác nhau để sưu tầm vốn văn hóa dân gian trong cộng đồng, bởi đó cũng là một phần công việc của họ. Nhưng nghe những câu chuyện ấy, tôi thấy nể phục về sự kiên trì, khả năng vận dụng linh hoạt, mềm dẻo trong nắm bắt thực tế của họ. Những điều ấy, thiết nghĩ, nếu chỉ là kinh nghiệm sống và làm nghề chắc khó có được; mà cao hơn, đó còn là sự tha thiết và trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nữa!

Cùng chuyên mục