Từ nhiều năm nay, người dân huyện đảo Vân Đồn chỉ biết đến ông Phạm Tuấn Hùng, Giám đốc Vườn Quốc gia Bái Tử Long, một người quyết đoán trong điều hành công việc bảo vệ rừng, nhưng ít ai biết rằng đó lại là chiến sĩ trên xe tăng 910, thuộc Đại đội 3, Lữ đoàn 203 trong đại quân tiến vào Dinh Độc Lập trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975.
Một chiều cuối tháng 4 này, khi mà cả nước đang diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, chúng tôi có dịp đến văn phòng của Vườn Quốc gia Bái Tử Long, được nghe ông Phạm Tuấn Hùng kể lại những giây phút gian khổ mà hào hùng khi ông cùng đồng đội tiến vào Dinh Độc Lập năm xưa.
Ông Phạm Tuấn Hùng đang giới thiệu về những Huân, Huy chương được trao vì có thành tích trong chiến đấu.
Sinh năm 1951, tại Gia Lâm, Hà Nội, năm 1970, khi đang là sinh viên năm thứ 2, Trường Đại học Lâm nghiệp, cũng như bao thanh niên khác, chàng trai Hà thành Phạm Tuấn Hùng đã xếp bút nghiên làm đơn tòng quân lên đường vào Nam chiến đấu. Sau 6 tháng học lái xe tăng ở Xuân Mai (Hoà Bình), chiến sĩ Phạm Tuấn Hùng lên đường vào Nam trong đội hình Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn 203 tăng - thiết giáp tham gia nhiều trận đánh từ Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Phú Yên… Trong những trận đánh ấy, chiến sĩ Phạm Tuấn Hùng đã cùng đồng đội vào sinh ra tử, giáng cho quân thù những đòn chí mạng. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất, tự hào nhất với ông là trong trận cùng đại quân tiến vào Sài Gòn cách đây vừa tròn 35 năm. Nhấp một ngụm trà, đôi mắt trở nên xa xăm như hồi tưởng lại một thời oanh liệt, ông chậm rãi kể: Trước khi bước vào chiến dịch, tôi là trợ lý kỹ thuật của Phân đội 3. Đúng 5 giờ chiều ngày 29-4-1975, tôi tham gia cùng xe tăng 866 do Trung đội trưởng Lê Tiến Hùng tham gia đánh căn cứ Nước Trong, Thủ Đức… Tại đây ta và địch giằng co nhau từng tấc đất, mét hào, tiếng bom rơi, đạn nổ đinh tai nhức óc; thương vong cả 2 phía nhiều vô kể. Hình ảnh Tiểu đoàn trưởng Ngô Quang Nhỡ hy sinh khi đang trong tư thế ngồi trên xe tăng chỉ huy bỏ lại sau lưng người vợ trẻ và đứa con thơ dại mới được vài tuổi, hay chiến sĩ lái xe tăng Nguyễn Văn Đào bị đạn tiện mất nửa đầu đã để lại cho chúng tôi nỗi thương tiếc khôn nguôi. Trong trận đánh ấy, bản thân tôi cũng bị đạn tiểu liên của địch bắn sượt đỉnh đầu, rất may, chỉ bị tượt da. Cũng cần phải nói thêm rằng, đơn vị chúng tôi từng được phong Anh hùng khi còn chiến đấu tại Cửa Việt, Đông Hà, Quảng Trị. Khi tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh, chúng tôi vinh dự được chọn làm mũi đột kích đánh vào hướng Dinh Độc Lập và cắm cờ trên nóc Phủ Tổng thống nguỵ ở Sài Gòn. Các xe của Đại đội chúng tôi đều có số hiệu và lấy biệt danh đơn vị là “Gia Nghĩa”.
Trước khi bước vào trận đánh quyết định này, các Chính uỷ và Chỉ huy trưởng Lữ đoàn xuống giao nhiệm vụ, đồng thời hướng dẫn la bàn để chúng tôi thực hiện. Không ai bảo ai, nhưng chúng tôi đều có chung tâm trạng hồi hộp, bừng bừng khí thế xông trận. Khoảng 7 giờ sáng ngày 30-4, xe tăng 866 do đồng chí Lê Tiến Hùng chỉ huy và tôi đã đến chân cầu Sài Gòn. Lúc này, địch đưa ra rất nhiều xe tăng, xe bọc thép để nghênh chiến. Theo chỉ đạo của cấp trên, xe tăng 866 có nhiệm vụ đi đầu tiên qua cầu và tiến vào Dinh Độc Lập, vì vậy, đồng chí Lê Tiến Hùng nói với tôi: “Cậu là trợ lý kỹ thuật phải xuống xe sau để theo dõi, sửa chữa xe của đơn vị. Tớ đi đầu tiên có thể bị hy sinh. Nếu tớ hy sinh, cậu nhớ bảo với vợ tớ ở Hạ Hoà (Phú Thọ) biết nhé!”. Thế là tôi xuống đi cùng với xe tăng 910 do đồng chí Giám quê ở Thanh Hoá chỉ huy tiến sau xe 866. Quả như lời đồng chí Hùng tiên đoán, xe 866 tiến đến giữa cầu thì bị pháo địch bắn trúng cửa pháo số 2, làm hầu hết CBCS trên xe đều bị thương vong. Do phải tranh thủ thời cơ, đoàn quân chúng tôi đành phải tiếp tục tiến lên chiến đấu. Kể đến đây - trong khoé mắt của ông Phạm Tiến Hùng chợt có 2 hàng lệ trào ra. Ông nghẹn ngào tâm sự: “Trải qua biết bao nhiêu trận đánh, mỗi một lần chứng kiến đồng đội hy sinh, chúng tôi đều không cầm được nước mắt. Vậy mà, thời gian đến ngày đại thắng chỉ còn tính từng giờ, từng phút, phải thấy cảnh đồng đội hy sinh, chúng tôi cảm thấy tiếc thương hơn bao giờ hết. Biến đau thương thành hành động, không ai bảo ai, tất cả đều quyết tâm xốc tới với khí thế mãnh liệt hơn bao giờ hết”. Nhấp thêm một ngụm trà, giọng ông Hùng bỗng trở nên hào sảng hơn, ông tiếp “Xe chúng tôi tiếp tục hướng vào Sài Gòn, đạn pháo địch quyết liệt chống trả. Trong đoàn chúng tôi có xe 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận (người cắm lá cờ lịch sử trên Dinh Độc Lập sau đó) chỉ huy từ phía sau vọt lên. Khoảng hơn 10 giờ sáng, chúng tôi có mặt ở Dinh Độc Lập. Điều đáng nhớ nhất trong đời quân ngũ của tôi là khi cùng đồng đội lên chiếm lĩnh tầng 2 đã thấy Tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn là Dương Văn Minh cùng nội các đang ngồi ủ rũ trong phòng lớn. Lúc này, Dương Văn Minh nói: “Chúng tôi đang chờ các ông đến để bàn giao”. Lữ đoàn phó Đoàn 203 là đồng chí Trần Văn Công giọng quả quyết “Các ông phải đầu hàng chứ không phải bàn giao”. Tổng thống nguỵ lại đưa ra yêu cầu “Phải có cán bộ cao cấp của Mặt trận đến chúng tôi mới làm việc”. Đúng lúc đó, đồng chí Bùi Văn Tùng, Chính ủy Đoàn 203 vào tới nơi. Đồng chí Tùng khẳng định: “Tôi là đại diện của Mặt trận đây, yêu cầu các ông phải đầu hàng và tuyên bố đầu hàng, quân đội của chúng tôi đã chiếm được toàn bộ Sài Gòn rồi”. Tiếp đến, chúng tôi được lệnh cùng đồng chí Bùi Văn Tùng áp giải Dương Văn Minh sang Đài Phát thanh và chính đồng chí Tùng đã soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Tổng thống cuối cùng của Nguỵ quyền Sài Gòn đọc lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Dọc đường trở về nơi đơn vị đóng quân, hai bên đường, đông nghẹt người dân cầm cờ giải phóng và hoa đón chào bộ đội. Một không khí mà đến bây giờ, mỗi khi nhớ lại, trong tôi vẫn còn thấy lâng lâng lạ!”.
Trước khi chia tay chúng tôi, ông Phạm Tuấn Hùng xúc động tâm sự: “Bây giờ, khi đã trở về với đời thường, chuyển sang công tác khác, nhưng chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc để cùng ôn lại những thời khắc lịch sử đáng nhớ ấy, nhất là về tấm gương hy sinh anh dũng của đồng đội trước cửa ngõ Sài Gòn. Mỗi chúng tôi đều thầm hứa với lòng mình phải sống sao cho thật có ích để không hổ thẹn với đồng đội nơi chín suối”.