“Quần đảo Cô Tô gần như không còn san hô” là kết luận của Tiến sĩ Nguyễn Đức Cự, Chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu khả năng phục hồi hệ sinh thái san hô và triển khai mô hình quản lý cộng đồng tại quần đảo Cô Tô”.
Đề tài này do Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh quản lý, Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện từ năm 2007 đến năm 2010, với kinh phí 1.125 triệu đồng, vừa được Hội đồng Khoa học và Công nghệ nghiệm thu ngày 19-7-2011.
Các nhà khoa học đã trồng thành công san hô trên giá thể dạng vòm.
Khảo sát quanh ba đảo chính thuộc quần đảo Cô Tô là Cô Tô lớn, đảo Thanh Lân và đảo Cô Tô con với phương pháp đánh giá và quan trắc rạn san hô của Viện Tài nguyên và Môi trường biển, những người thực hiện đề tài đã tìm ra nguyên nhân quan trọng và chủ yếu gây chết các tập đoàn san hô tại vùng biển xung quanh quần đảo Cô Tô là do ngư dân đánh bắt cá trên rạn bằng hóa chất độc xyanua vào khoảng các năm từ 2002 đến 2006. Hậu quả của quá trình sử dụng xyanua từ thời gian trước đã tích luỹ trong các rạn san hô bị chết, san hô sống và các phần đáy khác như rong biển, trầm tích đáy v.v.. là nguyên nhân dẫn đến các ấu trùng san hô khó tái sinh trên nền đáy cũ mà cần phải có thời gian đào thải hết ô nhiễm từ trầm tích. Hiện nay, san hô tại quần đảo Cô Tô đã bị suy giảm khoảng 75% số lượng loài, khoảng 80-90% về độ phủ so với những năm 1990. Đây là mức suy giảm mạnh nhất được ghi nhận tại Cô Tô. Các kết quả điều tra của đề tài chỉ phát hiện được 25 loài san hô phân bố rải rác ở những khu vực có sự trao đổi nước tốt, độ phủ nằm trong khoảng 1-7,5%, còn các rạn phía trong vịnh Cô Tô đã bị chết toàn bộ.
Được biết, đến nay, dư lượng hoá chất độc xyanua đang giảm thấp gần ngưỡng cho phép, đây là tín hiệu tốt để quá trình phục hồi tự nhiên diễn ra nhanh hơn. Tuy nhiên, sự phục hồi của san hô tại Cô Tô vẫn rất chậm chạp, một phần do lượng tồn dư chất xyanua vẫn còn, thêm vào đó là môi trường nước biển cũng bị ô nhiễm do dầu, mỡ, nước thải ven bờ, tàu thuyền neo đậu trực tiếp trên rạn san hô v.v.. Diện tích san hô còn lại chỉ khoảng dưới 10% so với trước kia cũng là một trong những khó khăn cho sự phục hồi tự nhiên của san hô do nguồn cung cấp ấu trùng rất ít. Các khu vực có san hô phân bố rải rác hầu như không còn thấy sự xuất hiện của ấu trùng san hô. Đây là nguyên nhân khiến việc san hô phục hồi theo cách tự nhiên hoặc việc trồng san hô là khá khó khăn.
Sau nhiều tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm, nhóm thực hiện đề tài đã đưa ra kết quả trồng thử nghiệm san hô trên các giá thể dạng vòm, giá thể dạng tấm, giá thể tự nhiên cho kết quả sống cao. Chẳng hạn như tỷ lệ sống của san hô trồng nhân tạo trên giá thể tự nhiên và giá thể dạng vòm là rất cao, đạt trên 95% ở tất cả các khu vực. Kỹ thuật trồng san hô tương đối đơn giản, đặc biệt khi đã được trực tiếp hướng dẫn phương pháp trồng và nguyên lý, thao tác cơ bản thì người dân địa phương hoàn toàn có thể làm được. Tuy nhiên, do san hô là loài sống dưới đáy biển nên rất khó khăn trong việc trồng, theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của loài. Một khó khăn nữa ảnh hưởng đến việc phát triển của các loài san hô đang được trồng thử nghiệm; đó là sự phát triển mạnh của ốc gai Drupella. Chúng ăn tất cả các nhóm san hô, kể cả nhóm có nhiều gai sắc nhọn. Loài ốc này có kích thước nhỏ nên dễ chui rúc trong các khe hoặc lỗ trong rạn san hô, khi ăn chúng thường tập trung thành từng nhóm chừng 5,6 con, ăn hết rạn san hô này chúng lại chuyển sang rạn khác. Ốc gai Drupella phát triển mạnh là do mất cân bằng sinh thái, đặc biệt là hiện tượng khai thác quá mức khiến cho các loài cá làm địch hại của chúng (ví dụ cá bò) mất đi, từ đó ốc gai phát triển rất mạnh.
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm tác giả đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức được ba lớp tập huấn nhằm nâng cao ý thứ bảo vệ tài nguyên cho cộng đồng, người dân. Từ đây, đã có nhiều tình nguyện viên tham gia chương trình trồng phục hồi san hô trên đảo. Qua các hoạt động, ý thức bảo vệ sinh thái rạn san hô của cộng đồng cư dân thuộc quần đảo Cô Tô được nâng lên rõ rệt. Đặc biệt, khi đề tài đã kết thúc, nhóm tình nguyện trồng và bảo vệ các rạn san hô vẫn hoạt động và thường xuyên cập nhật thông tin cho nhóm thực hiện đề tài.
“Để phục hồi được rạn san hô ở quần đảo Cô Tô như khoảng hơn 20 năm về trước thì phải mất ít nhất... 100 năm, đấy là với điều kiện phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu như trong đề án đặt ra” - Tiến sĩ Nguyễn Đức Cự nói. Ông cũng cho biết, trong điều kiện lý tưởng, mỗi năm san hô chỉ phát triển được từ 2 đến 3cm. Giờ đây, khi lặn xuống biển Cô Tô sẽ thấy những rạn san hô ở đây đã chết vẫn giữ nguyên được hình dáng và đã bị rong bì bao phủ. Để hệ sinh thái biển quần đảo Cô Tô được phục hồi, đặc biệt là với các rạn san hô, thì chính quyền địa phương cần có các biện pháp ngăn cấm triệt để các hình thức khai thác huỷ diệt làm tổn hại đến hệ sinh thái và nguồn lợi tự nhiên. Việc trồng phục hồi những rạn san hô đã chết hoàn toàn như ở khu vực Bắc Vàn, Thanh Lân, Cá Chép v.v.. cũng nên tiến hành sớm để tạo nguồn giống ban đầu cho quá trình phục hồi san hô tự nhiên diễn ra nhanh hơn...