Công tác bảo vệ môi trường: Nhiều chuyển biến tích cực

Những năm qua, công tác bảo vệ môi trường của Quảng Ninh đã có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng.

Hoạt động quản lý nhà nước và việc đầu tư các nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường được tăng cường; ý thức của nhân dân và doanh nghiệp, nhất là ngành Than đã nâng lên với nhiều việc làm thiết thực để bảo vệ môi trường trong đời sống hằng ngày và hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần giải quyết và giảm thiểu những vấn đề ô nhiễm môi trường bức xúc.

Công tác bảo vệ môi trường: Nhiều chuyển biến tích cực ảnh 1
Tưới nước rửa đường góp phần giảm thiểu bụi môi trường đô thị.

Cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, thời gian qua các địa phương, các ngành trên địa bàn Quảng Ninh đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm bảo vệ môi trường (BVMT).

Từ năm 2003 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã trồng mới 66.715 ha rừng tập trung, trung bình hàng năm trồng khoảng trên 9.500 ha rừng (vượt mục tiêu hàng năm trồng từ 6.500 - 7.000 ha); độ che phủ rừng năm 2009 đạt 49%; năm 2010 dự kiến đạt 50%. Tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước hợp vệ sinh đạt  80% (năm 2009); năm 2010 dự kiến đạt 83%.

Tỷ lệ thu gom và xử lý lượng rác thải hàng ngày tại các trung tâm đô thị, đạt tiêu chuẩn môi trường: Năm 2009 ước đạt 82%; năm 2010 dự kiến đạt 85%.

Hàng năm, tỉnh đã dành nhiều tỷ đồng để đầu tư trồng rừng, xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch và hỗ trợ cho các địa phương làm tốt công tác vệ sinh, thu gom rác, thoát nước, trồng và chăm sóc cây xanh. Công tác thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở các khu, cụm dân cư đã được đẩy mạnh ở các xã, phường, thị trấn, đã hình thành nhiều tổ tự quản thu gom rác thu hút nhiều đơn vị, cá nhân tham gia như: HTX Hải Yến (Đông Triều), HTX Đồng Tâm (Ba Chẽ), Công ty CP Tập đoàn INDEVCO Quảng Ninh... Không chỉ trên đất liền, hiện nay tỉnh đã thiết lập được hệ thống thu gom và xử lý rác thải trên biển: Khu vực Vịnh Hạ Long, ven bờ biển từ Bãi Cháy đến Hòn Gai. Hoạt động cấp phép về quản lý chất thải nguy hại, đổ thải vật liệu, nạo vét cải tạo các tuyến luồng được tăng cường. Hiện ngành Than đã xây dựng 25/40 trạm xử lý nước thải (chiếm 62,5%), dự kiến hết năm 2011 sẽ hoàn thành việc xây dựng và đưa vào vận hành đảm bảo xử lý 100% nước thải mỏ; các nhà máy, các nhà hàng, khách sạn có lượng nước thải lớn đã và đang được kiểm soát và dần được xử lý; đa số các cơ sở y tế có đủ thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường. Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 575 cơ sở có bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường; 461 đơn vị đã lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hoặc cam kết bảo vệ môi trường; 65 đơn vị đã lập đề án BVMT. UBND tỉnh đã cấp 293 sổ đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại cho các đơn vị và cấp giấy phép xử lý nước thải vào nguồn nước cho 50 đơn vị. Phê duyệt 4 dự án cải tạo phục hồi môi trường với tổng số tiền phải ký quỹ là 13,782 tỷ đồng; 10 đơn vị đã ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường tại Quỹ Môi trường Việt Nam với tổng số tiền là 7,630 tỷ đồng.

Không chỉ vậy, tỉnh đã chỉ đạo đẩy nhanh việc di dời một số cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi các khu đô thị, dân cư tập trung; quy hoạch lại hệ thống cảng than trên địa bàn toàn tỉnh. Đưa trạm xử lý nước thải Hà Khánh (7.500m3), Cái Dăm (3.500m3) và các bãi xử lý rác Quang Hanh, Đèo Sen, Hà Khẩu vào hoạt động. Bên cạnh đó, ngành Than đã chủ động thực hiện việc khắc phục ô nhiễm môi trường do việc khai thác than gây ra như: Nạo vét, xây kè các sông, suối, cải tạo các bãi thải cao và xây dựng hệ thống đường vận chuyển chuyên dụng ở các khu vực Đông Triều, Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả; tăng cường đầu tư nâng cao năng lực vận chuyển than bằng đường sắt; băng tải; xử lý chống bụi các khu vực sàng tuyển...

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác BVMT, nhưng quá trình đô thị hoá với tốc độ nhanh và sự phát triển kinh tế - xã hội với quy mô ngày càng lớn, hoạt động khai thác, chế biến than với sản lượng tăng gấp nhiều lần so với trước đây, làm quá tải hệ thống quản lý các công trình công cộng ở các địa phương và chưa bảo đảm quy hoạch, công trình xử lý ô nhiễm môi trường. Chưa có nhiều công trình xử lý rác thải đô thị, chưa xây dựng bãi rác công nghiệp, bãi rác sinh hoạt chưa được quan tâm đúng mức, nên hiện nay nhiều bãi rác đang là nguồn gây ô nhiễm, gây bức xúc về vấn đề môi trường. Các đơn vị làm nhiệm vụ VSMT thiếu về trang thiết bị, yếu về năng lực thu gom. Các sông suối tại Cẩm Phả, Hạ Long (suối moong Cọc Sáu, sông Mông Dương, suối Lộ Phong) bị ảnh hưởng của nước thải mỏ gây đục nước, có nhiều bùn đất và than rửa trôi gây bồi lấp dòng chảy, tổng hàm lượng các chất rắn lơ lửng vượt giới hạn cho phép 4 đến 5 lần và có xu hướng tăng so với các năm trước. Chất lượng các hồ nước tự nhiên tại Đông Triều, Uông Bí vẫn chịu tác động mạnh của việc khai thác than phía thượng nguồn và ngay liền kề làm cho nước bị a xít hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, nhiều hồ bị thu hẹp do đất đá thải và than trôi lấp. Để khắc phục tình trạng trên, thời gian tới tỉnh tiếp tục triển khai Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường, đánh giá và dự báo diễn biến môi trường trên phạm vi toàn tỉnh, nhằm đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường; áp dụng công nghệ sạch, công nghệ tiên tiến để giảm ô nhiễm môi trường. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục và xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, nhằm nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong giai đoạn 2010-2015. Tăng cường  đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường, huy động tối đa mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia công tác bảo vệ môi trường. Rà soát quy hoạch hệ thống thu gom, xử lý rác sinh hoạt nhằm lựa chọn vị trí phù hợp. Quy hoạch hệ thống thu gom và xử lý nước thải ở các đô thị và các khu dân cư tập trung. Đồng thời, đầu tư hệ thống cung cấp nước hợp vệ sinh cho các vùng nông thôn. Đối với hoạt động khai thác than, cần quy hoạch và thiết kế đổ thải hợp lý, chú trọng việc xử lý nước thải mỏ, hoàn nguyên môi trường, thực hiện các quy định về đóng cửa mỏ theo quy định của pháp luật.

* Ông Đoàn Văn Dũng, Giám đốc Công ty CP Du thuyền Đông Dương: Là đơn vị đã có bề dày trong hoạt động kinh doanh du lịch trên Vịnh Hạ Long, tôi thấy công tác bảo vệ môi trường Vịnh nhiều năm qua thực hiện đạt được nhiều kết quả. Tuy nhiên, công tác quản lý Nhà nước cũng cần có nhiều việc làm cụ thể, thiết thực hơn nữa để huy động được nhiều nguồn lực tham gia bảo vệ môi trường Vịnh. Cần có đánh giá cụ thể các nguồn gây ô nhiễm môi trường Vịnh để từ đó số hoá, đưa ra được biện pháp, phương pháp giảm thiểu ô nhiễm cụ thể. Có thể giao cho doanh nghiệp, khu vực dân cư tham gia vào việc bảo vệ môi trường Vịnh. Nhà nước giúp doanh nghiệp du lịch xây dựng tiêu chuẩn những con tàu du lịch xanh, lấy đó để các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu con tàu bảo vệ môi trường, bởi khi đó du khách có thể tham gia vào việc kiểm soát các hoạt động gây ô nhiễm môi trường như: Quy trình xử lý rác, việc sử dụng các chất tẩy rửa trên tàu...

Những năm qua, Công ty chúng tôi đã kết hợp với Ban Quản lý Vịnh Hạ Long thực hiện nhiều hoạt động bảo vệ môi trường Vịnh như thu gom, xử lý rác thải; tuyên truyền cho bà con ngư dân tại các làng chài hiểu và tích cực hơn trong công tác bảo vệ môi trường; hoàn thành Chương trình Vì một Hạ Long xanh... để Hạ Long đẹp hơn trong mắt du khách.

* Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng, tổ 10, khu 1, phường Hồng Hải (TP Hạ Long): Tôi thấy những năm gần đây công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố đã có nhiều chuyển biến tích cực. Trước kia, xe chở than, đất đá chạy khắp đường phố gây ảnh hưởng đến người tham gia giao thông, gây bụi bẩn cho các khu dân cư, nhưng đến nay việc này đã không còn, có tác dụng nhìn thấy đối với sinh hoạt, sức khoẻ của người dân. Đặc biệt, việc Công ty Môi trường đô thị thực hiện thu gom rác thải đến tận các tổ dân, khu phố mang lại lợi ích thiết thực, không gây ô nhiễm môi trường. Mỗi ngày, công nhân vệ sinh của Công ty Môi trường đô thị đều thu gom rác thải sinh hoạt tại nơi quy định. Cùng với việc giảm ô nhiễm môi trường, thu gom xử lý rác thải sinh hoạt, người dân trong khu chúng tôi đều có nước sạch sinh hoạt hợp vệ sinh.

* Ông Hoàng Việt Dũng, Chi Cục trưởng Chi Cục Bảo vệ môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường): Mặc dù thời gian qua, công tác BVMT trên địa bàn tỉnh đã có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, quá trình đô thị hoá với tốc độ nhanh và sự phát triển kinh tế - xã hội với quy mô ngày càng lớn đã gây nhiều vấn đề môi trường bức xúc. Hiện nay, mới chỉ có 2/14 địa phương là Hạ Long, Cẩm Phả có bãi rác theo công nghệ hợp vệ sinh (bãi xử lý rác Quang Hanh, Đèo Sen, Hà Khẩu), nhưng chưa đảm bảo yêu cầu về khoảng cách tối thiểu đến các khu dân cư và việc vận hành xử lý còn tình trạng ô nhiễm, ảnh hưởng đến đời sống của người dân.

Qua đây, tôi cũng đề nghị HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về bảo vệ môi trường đối với giai đoạn mới 2011-2020, nhằm góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững của tỉnh.

Hiểu Trân

Cùng chuyên mục