Trong những năm qua, công tác dân số - KHHGĐ trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, thực sự tạo bước chuyển mới với mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho tỉnh trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập. Đây cũng chính là đích mà bộ máy nói chung cũng như cá nhân mỗi người làm công tác dân số - KHHGĐ xác định phải tiếp tục duy trì, vươn tới cho dù trong năm 2008 lĩnh vực này gặp không ít biến động, khó khăn.
Tuyên truyền vận động thực hiện công tác DS-KHHGĐ với người dân vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn là một trong các khó khăn của ngành Dân số.
Ảnh: T.M
Điều cần khẳng định trước tiên là sự vào cuộc tích cực của tổ chức Đảng và các cấp chính quyền với công tác dân số - KHHGĐ trong những năm qua đã thực sự trở thành “điểm mấu chốt” quyết định thành công. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác dân số đều được tỉnh cụ thể hoá gắn với thực tế của địa phương. Bên cạnh đó, vai trò, trách nhiệm của toàn xã hội được phát huy tạo nguồn lực lớn cho công tác này vững bước. Đi đôi với nhân tố trên, không thể không nói tới “điều kiện đủ” đồng thời cũng chính là “chìa khoá” cho sự thành công của công tác dân số - KHHGĐ những năm qua là sự ổn định và hoạt động hiệu quả của hệ thống bộ máy của lĩnh vực này. Cơ quan chuyên trách dân số - KHHGĐ các cấp (Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em trước đây) đã làm tốt vai trò tham mưu cho lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp. Để đáp ứng tốt yêu cầu công việc, trên 90% cán bộ dân số từ tỉnh đến các huyện, thị xã, thành phố được đào tạo kiến thức về dân số và quản lý chương trình dân số. Mạng lưới cộng tác viên dân số hình thành từ năm 1993, được bố trí đến tận thôn, xóm, bản làng, tổ dân phố, cụm dân cư và hoạt động rất hiệu quả. Chính đội ngũ này đã đóng góp một phần không nhỏ vào việc hoàn thành nhiều chỉ tiêu công tác dân số - KHHGĐ của tỉnh. Bên cạnh đó, công tác thông tin, giáo dục, truyền thông được quan tâm mở rộng, đẩy mạnh. Các dịch vụ KHHGĐ đã có sự đa dạng, thuận tiện, an toàn về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của người dân trên địa bàn. Đáng chú ý là các mô hình nâng cao chất lượng dân số được chú trọng mở rộng như đề án “Nâng cao chất lượng dân số thông qua tuyên truyền vận động, phát hiện can thiệp sớm tật bệnh ở thai nhi và trẻ sơ sinh”; mô hình “chăm sóc SKSS vị thành niên” được triển khai ở 17/52 trường THPT trong tỉnh; mô hình “chăm sóc người cao tuổi”...
Để công tác dân số - KHHGĐ thực sự đi vào cuộc sống, trong những năm qua, nhà nước và địa phương đã ban hành nhiều chính sách, chế độ tạo động lực khuyến khích đội ngũ cán bộ chuyên trách, cộng tác viên cũng như sự tham gia tích cực của đông đảo người dân. Đó là việc cung cấp miễn phí một số dịch vụ KHHGĐ và có sự hỗ trợ về mặt vật chất đối với người tham gia; có chế độ đãi ngộ với các bộ chuyên trách và cộng tác viên dân số... Kinh phí đầu tư cho công tác dân số - KHHGĐ từ tỉnh đến các huyện, xã được quản lý, sử dụng có hiệu quả. Với cách làm bài bản, quy mô như đã nói ở trên, trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2006, công tác dân số - KHHGĐ đã thu được nhiều thành quả. Tỷ suất sinh giảm từ 15,22%o năm 2004 xuống còn 14,71%o năm 2006; bình quân mỗi năm giảm 0,26%o. Trong tổng số sinh hàng năm thì số người sinh con thứ 3 trở lên ở Quảng Ninh đã giảm từ 8,15% năm 2004 xuống còn 7,39% năm 2006; bình quân mỗi năm giảm được 0,38%. Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai từ 69,2% năm 2004 tăng lên 70,2% năm 2006; bình quân mỗi năm tăng 0,5%.
Những biến động 2008
Tháng 3-2008, Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em tỉnh chính thức giải thể và chia tách thành 3 lĩnh vực sáp nhập vào 3 cơ quan. Theo đó, lĩnh vực dân số được giao về Sở Y tế đảm nhiệm nằm trong bối cảnh chung là không có sự hướng dẫn cụ thể từ trung ương. Chính vì vậy, công tác dân số - KHHGĐ năm 2008 có sự biến động lớn với không ít khó khăn. Cho đến thời điểm này, hệ thống bộ máy làm công tác dân số - KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở hiện vẫn chưa ổn định. Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh được thành lập từ tháng 6-2008 mới được giao 11 biên chế trong khi đó theo Thông tư số 05/2008/TT-BYT của Bộ Y tế yêu cầu phải có ít nhất 20 biên chế. Trung tâm Dân số - KHHGĐ ở các huyện, thị xã, thành phố đã được giao chỉ tiêu biên chế nhưng mới đang trong giai đoạn kiện toàn tổ chức và đang rất khó khăn về cơ sở vật chất. Do có một giai đoạn mất ổn định nên cho đến thời điểm này các trang thiết bị đảm bảo cho hoạt động các Trung tâm đều thiếu. Từ chỗ có trụ sở làm việc ở giai đoạn trước (khi còn là Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em) thì nay có Trung tâm dân số - KHHGĐ như Đầm Hà, Móng Cái chưa có chỗ “treo biển” ổn định. Đáng lo ngại hơn cả chính là tâm lý coi nhẹ công tác dân số - KHHGĐ trong một bộ phận nhân dân và thậm chí có cả cấp chính quyền địa phương sau khi Uỷ ban Dân số, Gia đình và trẻ em giải thể. Theo đánh giá của Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh, công tác truyền thông, giáo dục trong năm 2008 ở các địa phương đều rất khó khăn do kinh phí từ chương trình mục tiêu chuyển xuống chậm. Việc phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở còn hạn chế. 8 tháng năm 2008 việc cấp phát các phương tiện tránh thai lâm sàng ở một số địa phương bị gián đoạn do nhiều nguyên nhân trong đó có chuyện tư tưởng của cán bộ dân số cấp xã và các cộng tác viên bị dao động khi tổ chức bộ máy thay đổi; thậm chí có nơi không có kho bảo quản, cấp phát... Công tác thu thập, báo cáo thống kê số liệu dân số - KHHGĐ bị chậm, cá biệt có nơi thiếu chính xác. Việc xây dựng, cập nhật kho dữ liệu điện tử ở các địa phương bị “bỏ trống” do không có cán bộ hay không có sự bàn giao. Số liệu thống kê của Chi cục Dân số - KHHGĐ trong 9 tháng năm 2008 cho thấy, các chỉ tiêu cơ bản đều không đạt kế hoạch. Cụ thể, so với cùng kỳ năm 2007 số sinh tăng 2,5%; số sinh là con thứ 3 trở lên tăng 7,3%; số người đặt vòng tránh thai mới giảm 23%; số người triệt sản mới giảm 5%. Dự kiến kết quả năm 2008 mức giảm tỷ suất sinh là 01%0 (kế hoạch giảm 0,3%0). Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên dự kiến giảm 0,1% (kế hoạch giảm 0,3%).
Để tới đích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
“Thực hiện gia đình ít con, duy trì mức sinh thay thế một cách bền vững, nâng cao chất lượng dân số, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững; tạo dựng môi trường phù hợp với trẻ em nhằm tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH” - Đây chính là mục tiêu được khẳng định trong kế hoạch thực hiện chương trình DS,GĐ&TE Quảng Ninh đến năm 2010 (KH số 2226/KH-UBND của UBND tỉnh ban hành ngày 8-9-2005). Để thực hiện tốt chương trình này, có 5 giải pháp lớn đã được chỉ rõ. Đó là tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền; tổ chức quản lý, kiện toàn, củng cố và ổn định tổ chức hệ thống làm công tác DS,GĐ&TE các cấp (nay là công tác dân số - KHHGĐ); đẩy mạnh, đa dạng hoá và đổi mới hoạt động truyền thông vận động xã hội; xây dựng cơ chế chính sách hợp lý và đầu tư nguồn nhân lực.
Cụ thể là, trong giai đoạn hiện nay, các cấp uỷ đảng, chính quyền, cũng như mỗi tổ chức, đoàn thể, các ngành, đơn vị cần phải “đôn” lại vị trí của công tác dân số - KHHGĐ. Việc cần làm trước mắt là xoá bỏ tư tưởng chủ quan, thoả mãn, buông lỏng sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác này. Trong việc thực hiện các chính sách dân số - KHHGĐ tiếp tục phát huy vai trò đầu tàu gương mẫu của các cán bộ, đảng viên, đồng thời có hình thức xử lý nghiêm với các trường hợp vi phạm các quy định hiện hành về dân số. Để nhanh chóng khắc phục sự tụt dốc của công tác dân số thời gian qua và duy trì kết quả ở các giai đoạn sau cần thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện công tác dân số - KHHGĐ ở các cấp dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND các cấp. Việc cần làm thứ hai chính là củng cố, ổn định và kiện toàn bộ máy làm công tác dân số - KHHGĐ. Đó là bố trí đủ cán bộ cho Chi cục Dân số - KHHGĐ tỉnh, đưa cán bộ chuyên trách dân số - KHHGĐ cấp xã vào là viên chức của Trạm Y tế xã theo Thông tư số 05/2008/TT-BYT của Bộ Y tế. Cùng với việc tăng cường đào tạo để nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ làm công tác dân số ở cấp cơ sở cần quan tâm nâng mức phụ cấp cho các cộng tác viên dân số ở thôn, xóm, bản làng. Bộ máy làm công tác dân số - KHHGĐ các cấp cũng xác định rằng, biện pháp tác động mạnh trong giai đoạn hiện nay là đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục trong toàn xã hội nhằm giúp mọi người nhận thức đúng về vai trò của công tác này cũng như trách nhiệm của mình. Bên cạnh đó, việc nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ phải được tiếp tục chú trọng, quan tâm.
Để đạt được các chỉ tiêu cơ bản của công tác dân số trong năm 2009 và các giai đoạn tiếp theo, tỉnh cần có cơ chế, chính sách cụ thể. Đó là, đưa nội dung thực hiện chính sách dân số - KHHGĐ thành một tiêu chí thi đua khen thưởng của tỉnh. Đối với các tập thể, cá nhân thực hiện tốt chính sách dân số phải được động viên, khen thưởng kịp thời. Bên cạnh đó, phải xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm chính sách dân số. Tỉnh cần chỉ đạo các địa phương thực hiện lồng ghép chính sách dân số - KHHGĐ vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Ngoài nguồn ngân sách của trung ương, hàng năm tỉnh đầu tư thêm cho công tác dân số - KHHGĐ theo bình quân đầu người là 3.000 đồng; ưu tiên đầu tư cho các vùng đông dân có mức sinh cao, khu vực miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn. Các huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn hàng năm cũng cần phải dành một phần ngân sách thích hợp đầu tư cho công tác dân số.