Những năm trước đây, người dân các xã vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh rất ngại đi khám, chữa bệnh. Phần vì đến trung tâm y tế huyện hay bệnh viện tuyến tỉnh đường sá xa xôi, chi phí đi lại tốn kém, trong khi đời sống của bà con chẳng dư dả gì.
Đến trạm y tế xã thì trình độ của cán bộ y tế có hạn, cơ sở vật chất, thiết bị thiếu thốn. Ngay cả nơi để người nhà nấu cơm, nấu nước cho bệnh nhân cũng không có... Song, vàinăm trở lại đây, các trạmy tế tuyến xã ở vùng miền núi, biên giới, hải đảo đã có những chuyển biến rõ nét, phần nào đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho bà con.
Khám bệnh cho bà con tại Trạm Y tế xã Quảng Điền (Hải Hà) - Trạm đạt chuẩn quốc gia năm 2006. Bà Chìu Sám Múi ở Khe Sám, bản Sám Cáu, xã Quảng An (Đầm Hà), kể: "Năm 2002, con tôi bị sốt, vào trạm xá nằm. Từ nhà tôi đến trạm y tế đi bộ mất nửa ngày đường. Trạm lại không có chỗ nấu cơm nên phải nhờ nhà dân xung quanh. Nước uống thì đi xin.., khổ lắm. Con chưa khỏi hẳn cũng phải xinvề". Không chỉ có trường hợp bà Chìu Sám Múi mà đối với bà con vùng cao, những năm trước đây, họ rất ngại đến trạm y tế sinh con, hay nằm điều trị ở trạm khi đau, ốm. Một phần vì ở trạm không có nơi nấu ăn, thiếu nước sinh hoạt, phần nữa là do trình độ cán bộ y tế chưa cao, chưa tạo được sự tin tưởng cho bà con. Trước năm 2003, 90% trạm y tế ở các xã khó khăn trên địa bàn tỉnh đều cũ kỹ, xuống cấp, chỉ có 3 - 4 phòng. Đa số trạm thiếu các khu phụ trợ, hậu cần, như: nhà kho, bếp, công trình vệ sinh; thiết bị khám, chữa bệnh chưa đáp ứng được yêu cầu; đội ngũ cán bộ y tế ở các xã khó khăn trên địa bàn tỉnh lại yếu về trình độ chuyên môn… Lúc bấy giờ, 97 trạm y tế xã, phường ở 9 huyện, thị miền núi, biên giới, hải đảo (Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Ba Chẽ, Bình Liêu, Vân Đồn, Cô Tô, Hoành Bồ)thì chỉ 22 trạm có bác sĩ, còn đa số là y tá, y sĩtrình độ văn hoá hết cấp II.Chính bởi vậy, công tác chăm sóc y tế học đường ở các xã khó khăn không được chú trọng; việc quản lý, chăm sóc người tàn tật tại cộng đồngchưa đáp ứng được yêu cầu...Công tác sơ cấp cứu trường hợp thương tích tại các trạm còn khó khăn do thiếu thiết bị, dụng cụ sơ cứu, phương tiện vận chuyển...
Nhưng vài năm trở lại đây, bức tranh y tế vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo trên địa bàn tỉnhđã khởi sắc. Cho đến thời điểm hiện tại, trong tổng số 99 xã, phường ở 9 huyện, thị này (năm 2006 mới thành lập thêmxã Đại Thành (Tiên Yên) và Tân Lập (Đầm Hà)) thì có26 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Năm 2007, thêm 12 xã của các huyện này đăng ký đề nghị thẩm định để công nhận đạt chuẩn. Một số địa phương như Vân Đồn, Hải Hà, Tiên Yên, Móng Cái đã dành kinh phí đầu tư xây dựng, nâng cấp các trạm y tế tuyến xã. Riêng thị xã Móng Cái, năm 2007 đã đầu tư 2 tỷ đồng xây mới và nâng cấp 8 trạm y tếtrên địa bàn. Để giúp các địa phương đẩy mạnh việc nâng cao cơ sở vật chất cho y tế tuyến xã, năm 2005, Sở Y tế đã chủ động khai tháccác nguồn vốn, như: vốn đối ứng dự án y tế nông thôn, nguồn vốn phát triển văn hoá-xã hội, vốn dự án quân dân y, vốn đầu tư tập trung của tỉnh với số tiền lên tới 1 tỷ đồng để đầu tư, xây dựng bổ sung nhà cho 10 trạm y tế, trong đó phần lớn là trạm ở các huyện thị khó khăn, như Trạm Y tế xã Phong Dụ (Tiên Yên), Trạm Y tế Bắc Sơn (Móng Cái), Trạm Y tế xã Quảng Long (Hải Hà)... Hiện có khoảng 40 trạm y tế ở 9 huyện miền núi, biên giới, hải đảo được xây dựng, sửa chữa, nâng cấp khang trang. Đa số các xã đã huy động được cộng đồng cùng tham gia công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Các đoàn thể của xã cũng tích cực trong công tác vận động người dân đưa con em đi tiêm phòng; thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia; quản lý sức khoẻ cho học sinh tại các trường học... Chương trình phục hồi chức năng tại cộng đồng được nhiều xã triển khai có hiệu quả. Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi ở các xãđược tiêm đủ6 loại vắc xin đều đạt từ 85% trở lên. Công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản cũng được chú trọng. 80/99 trạm y tế ở các địa phương này đã có điện thoại để phục vụ công tác thông tin, cấp cứu bệnh nhân. Các trạm cũng được đầu tư bộ dụng cụ và bộ khám chuyên khoa cơ bản để phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ cho bà con. Không chỉ chú trọng đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị, đội ngũ cán bộ y tế ở các xã vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh không ngừng được củng cố, nâng cao trình độ năng lực, chuyên môn. Hàng năm, Sở Y tế, phòng y tế các huyện, thị đều có chương trình tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế xã về công tác quản lý, khám bệnh, sơ cấp cứu, y học cổ truyền... Nhiều huyện, thị đã cử cán bộ y tế xã đi học các lớp chuyên tu,đào tạo chuyên khoa mắt, tai-mũi-họng, răng- hàm-mặt... Hiện tại, 58 xã, phường của 9 huyện, thị này đã có bác sĩ biên chế tại trạm. 100% thôn, bản nơi đây có y tá thôn, bản. Một số địa phương còn làm tốt công tác quân dân y kết hợp để huy động các bác sĩ quân y vào cuộc tham gia chăm sóc sức khoẻ nhân dân trên địa bàn như: Hải Hà, Vân Đồn, Móng Cái... Phòng Y tế thị xã Móng Cái còn ký hợp đồng với 3 bác sĩ đã về hưu để làm việc tại trạm y tế xã.
Công tác y tế ở các xã vùng sâu, vùng xa được quan tâm phát triển mạnh đã góp phần làm giảm tỷ suất chết ở trẻ em dưới 1 tuổi, từ 21% vào năm 2000 nay chỉ còn dưới 17%. Năm 2001, tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng là 28%thì nay còn 22%.Nhiều năm trở lại đây, Quảng Ninh không có các dịch bệnh lớn xảy ra... Người dân cũng tin tưởng, tìm đến với các trạm y tế xã nhiều hơn. Năm 2007, y tế tuyến xã của 9 huyện, thị miền núi, biên giới, hải đảo đã khám, chữa bệnh cho gần 220.000 lượt người. Việc đẩy mạnh đầu tư hệ thống y tế xã vùng sâu, vùng xa…giúp công tác chăm sóc sức khoẻ cho người dân ở những nơikhó khăn ngày càng phát triển, bắt nhịp cùng sự phát triển của ngành y tế trên địa bàn toàn tỉnh.