Đã có những chuyển biến trong công tác quản lý bảo vệ môi trường

Sau 7 năm thực hiện Nghị quyết 117 của HĐND tỉnh khoá 10 về “một số chủ trương, giải pháp tăng cường công tác quản lý bảo vệ môi trường đến năm 2010”, công tác bảo vệ môi trường của tỉnh đã có chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng.

Các cơ quan lãnh đạo đã có chuyển biến rõ nét trong nhận thức, thể hiện quyết tâm ngăn chặn khắc phục, bảo vệ môi trường. ý thức của người dân, doanh nghiệp nhất là ngành Than được cải thiện và nâng cao. Việc huy động các nguồn cho công tác bảo vệ môi trường được tăng cường. Nhiều kiến nghị của thường trực HĐND tỉnh về tăng cường quản lý và khắc phục ô nhiễm môi trường sau các cuộc giám sát, khảo sát được thực hiện đã góp phần giải quyết và giảm thiểu những vấn đề ô nhiễm môi trường bức xúc.

Đã có những chuyển biến trong công tác quản lý bảo vệ môi trường ảnh 1
Bãi thải Nam Đèo Nai (Công ty CP Than Đèo Nai) được cắt tầng hạn chế sạt lở.

Chuyển biến trong công tác bảo vệ  môi trường

Từ năm 2005 đến nay, việc khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm môi trường đã được UBND tỉnh và các địa phương quan tâm. Tỉnh đã ban hành nhiều quy chế cụ thể trong việc bảo vệ môi trường như: Quy chế bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ninh; quy chế quản lý Vịnh Hạ Long; kế hoạch kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2020; quy hoạch quản lý chất thải rắn... và phê duyệt mạng điểm quan trắc đến năm 2020. Đặc biệt các doanh nghiệp lớn như Công ty Xăng dầu B12 và một số đơn vị thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã thực hiện việc quan trắc môi trường và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo định kỳ. Để đánh giá việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường của các đơn vị công tác thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) được chú trọng. Tính đến hết năm 2009 trên địa bàn tỉnh có 344 dự án được phê duyệt báo cáo ĐTM các lĩnh vực khai thác khoáng sản, đầu tư hạ tầng, sản xuất công nghiệp, thuỷ sản, du lịch...; 957 cơ sở đã được các địa phương cấp giấy xác nhận cam kết bảo vệ môi trường. Riêng TKV và các đơn vị thành viên đã chủ động hơn trong việc phối hợp với địa phương khắc phục ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than. Điển hình như: Dự án cải tạo hoàn nguyên môi trường bãi thải Nam Đèo Nai, Nam Lộ Phong; xây dựng một số tuyến đường chuyên dụng vận chuyển than, kiểm soát và hạn chế vận chuyển than trên quốc lộ 18; tăng cường xử lý chống bụi tại các khai trường, các khu vực sàng tuyển... Tổng kinh phí đầu tư từ năm (2005-2009) bằng nguồn vốn Quỹ môi trường ngành Than cho các dự án nhằm cải thiện môi trường trên 1.000 tỷ đồng.

Vẫn còn những tồn tại cần khắc phục

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường, tuy nhiên, theo báo cáo của Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trường, ở một số khu vực vẫn còn ô nhiễm bụi và tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép. Dọc tuyến quốc lộ 18 đoạn từ Đông Triều đến Cẩm Phả và những khu dân cư liền kề vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của bụi. Đặc biệt hàm lượng bụi tăng cao ở các điểm có hoạt động vận chuyển than hoặc vận chuyển đất do đào xúc, san lấp mặt bằng các dự án hạ tầng đi qua. Đáng báo động đoạn đường từ Mông Dương đến Móng Cái hiện đang được đầu tư nâng cấp, ô nhiễm bụi do thi công diễn ra liên tục và kéo dài, hàm lượng bụi một số khu vực vượt giới hạn cho phép 6,2 lần. Không chỉ vậy, vấn đề xử lý rác thải, nước thải chưa đảm bảo yêu cầu. Hàng năm, lượng chất thải rắn sinh hoạt trong toàn tỉnh khoảng 465.000 tấn, mặc dù đã được các địa phương quan tâm đầu tư, xử lý nhưng việc xử lý hầu hết chỉ sử dụng phương pháp chôn lấp đơn giản chưa đảm bảo yêu cầu. Hiện nay mới chỉ có 2 địa phương là Hạ Long, Cẩm Phả có bãi rác hợp vệ sinh. Tuy nhiên, các bãi rác này chưa đảm bảo yêu cầu về khoảng cách tối thiểu đến các khu dân cư và việc vận hành xử lý còn gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến đời sống của người dân.

Là tỉnh công nghiệp nên lượng nước thải công nghiệp hàng năm thải ra khá lớn. Hiện trên địa bàn tỉnh mới có duy nhất khu công nghiệp Cái Lân có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Đa số các đơn vị thuộc TKV vẫn đang xả trực tiếp nước thải ra môi trường với một số chỉ tiêu vượt giới hạn cho phép. Đáng báo động các sông tại Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả như: Sông Sinh, sông Uông, sông Vàng Danh, sông Mông Dương, suối Lộ Phong bị ảnh hưởng của nước thải mỏ, có nhiều bùn đất và than rửa trôi gây ảnh hưởng bồi lấp dòng chảy. Theo kết quả quan trắc thì tổng hàm lượng các chất thải rắn lơ lửng vượt giới hạn cho phép từ 4 đến 5 lần và có xu hướng tăng so với các năm trước. Thời gian qua, việc đổ thải đất đá của ngành Than đã chuyển đổi công nghệ từ đổ thải cao sang đổ thải theo phân lớp từ thấp lên cao và tích cực đầu tư áp dụng nhiều biện pháp và trồng cây phủ xanh bãi thải. Tuy nhiên, việc cải tạo phục hồi môi trường các khu vực khai thác than còn chậm, một số khu vực như bãi thải Chính Bắc, bãi thải Đông Cao Sơn, Bắc Cọc Sáu là nơi tập trung đổ thải của nhiều đơn vị khai thác lộ thiên với độ cao 300m gây phát tán bụi. Về công tác quản lý chất thải nguy hại từ năm (2007-2009) có 212 đơn vị đăng ký và được cấp sổ chủ nguồn chất thải nguy hại. Tổng khối lượng chất thải nguy hại trung bình phát sinh trong năm đã đăng ký quản lý là 3.289 tấn. Mặc dù vậy, công tác quản lý, cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải nguy hại mới tập trung vào những đơn vị và những loại chất thải có số lượng lớn, còn những đơn vị nhỏ và loại chất thải khối lượng ít chưa được quản lý chặt chẽ.

Có thể khẳng định, sau 7 năm thực hiện Nghị quyết 117 của HĐND tỉnh, công tác quản lý về bảo vệ môi trường đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, để nghị quyết đi vào cuộc sống thiết thực và hiệu quả hơn, vừa qua đoàn giám sát của HĐND tỉnh đã yêu cầu các địa phương cần lập quy hoạch liên quan đến bảo vệ môi trường như quy hoạch cấp thoát nước, quy hoạch thu gom xử lý chất thải nguy hại; đẩy mạnh việc cải tạo phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác than; quản lý chặt chẽ các nguồn chất thải nguy hại, tăng cường quản lý nguồn nước thải công nghiệp; sớm thành lập quỹ môi trường để chủ động hơn trong các hoạt động bảo vệ, phục hồi môi trường.

Cùng chuyên mục