Nếu như ô nhiễm môi trường ở khu vực trung tâm đông dân cư, các đô thị lớn đã được quan tâm và có biện pháp khắc phục thì tình trạng suy thoái môi trường ở các vùng nông thôn cũng đang gióng lên những hồi chuông báo động. Cần có sự quan tâm vào cuộc tích cực, có giải pháp đồng bộ và căn cơ cho bảo vệ môi trường khu vực này trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Nông dân xã Hải Xuân (Móng Cái) tham gia trồng rừng ngập mặn bảo vệ môi trường vùng ven biển. ảnh: Hữu Việt
Nếu như việc thu gom rác thải ở các vùng đô thị đã được quan tâm và thực hiện từ lâu, thì đối với các vùng nông thôn trong vài năm gần đây khi mật độ dân số ngày càng cao, lượng rác thải sinh hoạt ngày càng nhiều vấn đề thu gom và xử lý rác thải mới được đặt ra. Tuy nhiên, cũng chỉ dừng lại ở một số vùng tập trung dân cư đông đúc và việc thu gom này cũng chỉ đạt được kết quả khiêm tốn. Thực tế hiện nay cho thấy nhiều vùng nông thôn đang đứng trước nguy cơ bị biến thành “thùng” chứa rác thải như khu vực Hà Nam (Yên Hưng), một số vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp của huyện Đông Triều… ở một số khu vực nông thôn miền núi đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, họ vẫn sử dụng hố xí phân sầu, phân bắc tươi để bón cây. Ao hồ, sông, suối trở thành nơi chứa chất thải sinh hoạt và chất thải sản xuất. Trong khi đó bao đời nay người dân ở những vùng nông thôn vẫn quen với việc sử dụng nguồn nước tự nhiên ở các ao, hồ, sông suối, từ những chiếc giếng tự đào. Nhiều nơi sông vừa là nơi tắm rửa, giặt giũ cho người, gia súc, vừa là nơi cung cấp nước sinh hoạt. Có nơi cả làng, cả thôn dùng chung một giếng nước nhưng họ không biết rằng qua khảo sát của cơ quan chuyên môn chất lượng nước ngầm của Quảng Ninh không cao và ở một nơi có chứa hàm lượng Coliform vượt quá giới hạn cho phép từ 2-3 lần. Nhiều người dân nông thôn không quan tâm, không biết đến tầm quan trọng của mối liên hệ giữa nhà tiêu - vệ sinh cá nhân và sức khoẻ. Qua khảo sát của Sở Y tế, các bệnh chủ yếu thường mắc phải của phụ nữ và trẻ em nông thôn đều do nguồn nước và ăn ở không hợp vệ sinh như tiêu chảy, đường ruột, ngoài da, đau mắt hột, mắt đỏ. Nhất là các loại bệnh phụ khoa xuất hiện ở phụ nữ các xã vùng cao với tỷ lệ khá cao (60%) do nguồn nước sinh hoạt không hợp vệ sinh.
Hiện nay sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển, nông dân đã biết ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất cây trồng và vật nuôi nên việc sử dụng các loại phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật ngày càng tăng. Quy mô chăn nuôi ngày càng mở rộng lượng chất thải từ sản xuất ra nhiều nhưng không được xử lý đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống. Các dự án nuôi trồng thuỷ sản theo quy mô công nghiệp ngày càng nhiều nhưng lại không tuân thủ đầy đủ quy định về bảo vệ môi trường. Để mở rộng diện tích nhiều vùng bà con ngư dân tự ý chặt phá rừng ngập mặn để tạo ao đầm nuôi tôm, cá gây biến đổi hệ sinh thái, mất cân bằng tự nhiên khiến nhiều loài thuỷ sản mất nơi cư trú. Hệ sinh thái rừng tự nhiên trên cạn bị chặt phá, nhiều loài thực vật quý hiếm bị khai thác kiệt quệ.
Để giải quyết vấn đề môi trường ở các vùng nông thôn trong quá trình CNH-HĐH, những năm gần đây đã được quan tâm, chú trọng bằng các dự án cụ thể. Diện tích trồng rừng ngày càng tăng nhanh, tỉnh đã quan tâm đầu tư triển khai một số dự án cải thiện môi trường ở những vùng nông thôn có mật độ dân số cao; hướng dẫn nông dân trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt, sử dụng quy trình kỹ thuật khép kín trong chăn nuôi theo quy mô công nghiệp… Tuy nhiên, ở các vùng nông thôn hiện thiếu hẳn hệ thống quản lý về môi trường; đánh giá về thực trạng môi trường vùng nông thôn chưa thường xuyên, hệ thống, thiếu chính xác và còn sai sót; nhận thức của người nông dân về vấn đề môi trường còn hạn chế. Thực trạng môi trường vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh hiện nay cho thấy cần có chiến lược riêng để bảo vệ môi trường khu vực này.