Đã được giải quyết thấu đáo, không nên kéo dài

Năm 1993 UBND thị trấn Quảng Yên (Yên Hưng) chủ trì tiến hành san nền khu Âu Đà (thuộc HTX cơ khí tháng 8 cũ) để quy hoạch bán đất cho dân xây dựng nhà ở.

Việc san nền được Quảng Yên ký hợp đồng với tổ san gạt Âu Đà do ông Đỗ Hồng Bài làm tổ trưởng, với phương thức khoán gọn. Tổ san gạt Âu Đà hoàn thiện tất cả các công việc từ khâu đổ đất đến thu tiền thuê đất của các hộ dân cho tới việc giúp các hộ dân làm thủ tục đề nghị huyện giao quyền sử dụng đất. Tổ phải nộp cho thị trấn số tiền 43 triệu đồng để thị trấn chi trả cho HTX cơ khí tháng 8, tiền can vẽ bản đồ quy hoạch và ủng hộ ngân sách thị trấn. Kết thúc công việc, Tổ san lấp Âu Đà đã nộp cho thị trấn 33 triệu đồng, hai bên cũng có biên bản xác định chi phí san nền với tổng số tiền là hơn 325 triệu đồng. Tuy nhiên, sau đó do phát sinh mâu thuẫn giữa UBND thị trấn với tổ ông Bài về tính giá các phương án nên số tiền trên chưa được thanh toán.

Thời điểm đó UBND tỉnh tiến hành thanh tra việc cấp đất xây dựng các khu dân cư trên địa bàn huyện Yên Hưng. Đến tháng 5-1994 Thanh tra tỉnh có thông báo kết luận về việc này, trong đó nói rõ việc UBND thị trấn Quảng Yên lập quy hoạch đứng ra làm bên A khoán gọn cho nhóm tư nhân đổ lấp đất Âu Đà để bán cho dân làm nhà ở là việc làm sai, vi phạm Luật đất đai. Sau khi có kết luận của thanh tra tỉnh, cũng là để tạo điều kiện thanh toán tiền san nền cho tổ ông Bài, UBND huyện Yên Hưng đã thành lập hội đồng tư vấn để tính toán giá đất và giá san gạt mặt bằng khu Âu Đà. Theo đó đã xác định chi phí san lấp Âu Đà là hơn 118 triệu đồng. Theo ông Hải, Chánh Thanh tra huyện, số tiền này do các cơ quan chuyên môn của huyện khảo sát tính toán trên cơ sở quy định của pháp luật và căn cứ vào giá cả thị trường Quảng Yên tại thời điểm đó. Tuy nhiên, tổ ông Bài không không nhất trí với con số này. Năm 1996, trên cơ sở đề xuất của tổ công tác của huyện giải quyết tồn tại về đất Âu Đà, UBND huyện đã có quyết định 368 phê chuẩn điều chỉnh giá đất Âu Đà, trong đó một lần nữa xác định số tiền san gạt là hơn 118 triệu đồng, giao UBND thị trấn giao trả cho tổ ông Bài.

Về phía tổ hợp của ông Bài, sau khi có QĐ 368 tổ đã nhất trí nhận tiền bằng phương thức quy ra 10 ô đất trong tổng số 24 ô đất khu Âu Đà đã san gạt với giá 113,3 triệu đồng, còn lại 5 triệu đồng ông Bài gửi lại huyện để tìm thêm tiền đủ mua một ô đất nữa. Ông Bài cũng đề nghị huyện thanh toán số diện tích bồi trúc 1.304m2 còn thiếu, chưa được tính chi trả và đề nghị thị trấn trả lại tổ số tiền 33 triệu đồng với lãi suất ngân hàng. Ngay sau đó UBND huyện Yên Hưng đã làm các thủ tục giao 10 ô đất cho tổ ông Bài.

Sự việc tưởng đến đây là xong, song năm 2005, sau 9 năm bất ngờ tổ ông Bài lại có đơn khiếu nại QĐ368 của UBND huyện Yên Hưng và đề nghị cấp tiếp 14 ô đất còn lại của khu đất Âu Đà. Qua nhiều buổi làm việc giữa tổ ông Bài với UBND huyện Yên Hưng, trả lời của Thanh tra tỉnh đều nói rõ yêu cầu khiếu kiện của ông Bài là không có cơ sở, hơn nữa việc khiếu nại này đã hết thời hiệu khiếu nại. Tuy nhiên, ông Bài vẫn không đồng ý và tiếp tục gửi lên các cấp trên. Tháng 5-2007, xét thấy ông bài vẫn còn một số quyền lợi chưa được chi trả đúng trình tự pháp luật, UBND tỉnh có công văn yêu cầu huyện Yên Hưng xác minh, kiểm tra số tiền 33 triệu mà tổ hợp ông Bài đã nộp cho UBND thị trấn Quảng Yên. UBND huyện đã xác minh và mời đại diện tổ san lấp Âu Đà lên làm việc, (lúc này ông Bài đã uỷ quyền cho ông Nguyễn Thành Đô, một thành viên trong tổ) với quan điểm huyện nhất trí trả lại cho tổ hợp 33 triệu đồng đã giao cho thị trấn có tính lãi theo mức lãi suất ngân hàng, cùng hơn 5 triệu đồng chi phí san lấp Âu Đà còn thừa. Để giải quyết sự việc một cách thấu tình đạt lý, tránh thiệt thòi cho người dân, cuối năm 2007 huyện Yên Hưng quyết định quy đổi số tiền 33 triệu đồng bằng 3 lô đất trong số các ô đất Âu Đà còn lại, tương đương với giá trị đất vào thời điểm năm 1996 (song tính theo giá đất năm 2007 của UBND tỉnh thì 3 lô đất trên trị giá 180 triệu đồng). Tuy nhiên, ông Nguyễn Thành Đô vẫn không đồng ý với hướng giải quyết của huyện Yên Hưng và tiếp tục gửi đơn khiếu nại đi nhiều cơ quan cấp trên.

Như vậy qua diễn biến sự việc có thể thấy về quan điểm giải quyết của huyện Yên Hưng bằng cách ưu tiên giao đất cho các thành viên tổ hợp, thu tiền sử dụng đất theo giá quy định là đúng lý và hợp tình. Về chi phí san lấp mặt bằng khu đất Âu Đà, con số 118 triệu đồng là đáng tin cậy bởi nó được huyện Yên Hưng phê chuẩn trên cơ sở kết quả kiểm tra xác định, của các cơ quan chức năng có thẩm quyền của huyện và kết quả kiểm tra thực tế. Thời điểm năm 1996, sau khi tổ san lấp ông Bài chấp nhận 10 ô đất bù trừ số tiền chi phí san lấp, có nghĩa tổ đã đồng ý với số tiền hơn 118 triệu đồng, và đồng ý với phương án giải quyết của huyện. Mặt khác, cho đến đầu năm 2005 tổ hợp ông Bài mới có đơn khiếu nại, theo quy định Luật khiếu nại, tố cáo thì đã hết thời hiệu khiếu nại. Tuy nhiên, xét sự việc của tổ hợp còn chưa được xem xét, giải quyết thấu đáo nên mới có các cuộc làm việc giữa các cơ quan chức năng huyện, tỉnh với tổ hợp từ năm 2007 đến nay. UBND huyện Yên Hưng cũng đã thiện chí chỉ đạo cơ sở trả lại số tiền 33 triệu đồng UBND thị trấn Quảng Yên nhận sai nguyên tắc, không những thế còn linh động quy thành 3 ô đất, tương đương giá trị năm 1993 mặc dù thời điểm 2007 giá trị 3 ô đất trên cao hơn gấp 6 lần.

Có thể nói việc UBND thị trấn Quảng Yên lập quy hoạch đứng ra làm bên A khoán gọn cho nhóm tư nhân đổ lấp đất Âu Đà để bán cho dân làm nhà ở là việc làm sai. Đây là trách nhiệm của thị trấn Quảng Yên, và sai phạm này của thị trấn ngay khi đó cũng đã được giải quyết, quy trách nhiệm đúng người, đúng vi phạm. Còn sự việc của tổ san lấp Âu Đà đã được các cấp chính quyền Yên Hưng, tỉnh giải quyết thấu đáo, thiện chí, hợp lý hợp tình, thiết nghĩ người dân cũng nên hợp tác, tránh tình trạng cố tình khiếu kiện kéo dài, phức tạp, gây mất an ninh trật tự.

Cùng chuyên mục