Hôm qua, 14-12, ngày làm việc thứ hai, kỳ họp thứ 11, HĐND tỉnh khoá XI các đại biểu thảo luận theo tổ và tại hội trường về các báo cáo, tờ trình, dự thảo nghị quyết, làm rõ nhiều vấn đề cử tri quan tâm.
* Hạ tầng giao thông không đáp ứng được yêu cầu phát triển
Đây có lẽ là vấn đề “nóng” nhất trong phiên thảo luận. Theo yêu cầu của chủ toạ kỳ họp, Giám đốc Sở GTVT đã báo cáo về chiến lược đầu tư các tuyến đường trọng điểm. Trong đó, dự án nâng cấp QL18A, đoạn Mông Dương- Móng Cái đã được Bộ KH&ĐT trình lên Thủ tướng Chính phủ và ghi vốn ưu tiên vào năm 2008. Dự án được chia là 18 gói thầu và dự định sẽ khởi công vào quý 3 hoặc quý 4 năm 2008 và hoàn thành vào năm 2010 với tổng số vốn là 1.300 tỷ đồng. Chủ toạ kỳ họp cho rằng ngành GTVT tỉnh cần mạnh dạn tham mưu các giải pháp như: Đề nghị tỉnh ứng vốn hoặc vay vốn (không chờ vốn Chính phủ giải ngân theo từng năm, sẽ rất chậm), và nên thuê nhiều nhà thiết kế, thi công đồng thời cùng thực hiện thì dự án sẽ không bị chậm.
Quang cảnh buổi họp. Ảnh: Ngọc Hà
ĐB Nguyễn Hữu Tước (tổ Cẩm Phả) cho rằng nếu đợi đến 2010 mới xong các tuyến trên thì kinh tế Quảng Ninh từ nay đến đó phát triển thế nào? Và liệu trong 2 năm có làm xong được không? Như vấn đề xây dựng các cầu vượt ở Uông Bí, Cẩm Phả và Mông Dương đã được tỉnh đặt ra từ năm 2006, nhưng đến nay đã thấy gì đâu? Phát biểu tại phiên thảo luận ở tổ, Giám đốc Sở Thương mại nêu ví dụ điển hình về hậu quả của hạ tầng giao thông quá kém đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế. Đó là việc phía Trung Quốc đề nghị ta mỗi ngày cho 1.000 xe conteiner chở cây cảnh sang Bắc Kinh qua QL18A để phục vụ Thế vận hội olympic 2008. Nhưng ta chỉ đáp ứng được 300 chuyến/ngày và cũng chỉ chở được 1 tuần thì phải dừng lại vì đường sá không đáp ứng được.
Khi thảo luận ở tổ, ĐB Đỗ Thông (Cẩm Phả) đã tập trung phát biểu nhiều ýý kiến về vấn đề này. Vì thế, khi thảo luận ở hội trường, sau phần báo cáo của Giám đốc Sở GTVT, chủ toạ kỳ họp tiếp tục mời ĐB Thông phát biểu. ĐB Thông đã đặt ra nhiều vấn đề cần làm khi giải bài toán giao thông của tỉnh. ĐB Thông cho rằng mở rộng tuyến Chí Linh-Hạ Long mới cần đưa vào ưu tiên số 1. Tuyến này hiện đã quá tải, vì vậy cần mở rộng mỗi bên 3,5m, làm hàng rào phân luồng ô tô chạy riêng, xe máy và xe thô sơ chạy riêng; các tuyến đường nhánh giao với đường này phải gom lại và cứ khoảng 1,5km mới có một tuyến đường tránh. Tuyến Cửa Ông-Móng Cái cũng cần phải được đầu tư nâng cấp ngay. Để giảm tải cho tuyến này cần xây dựng một cảng biển ở Móng Cái phục vụ vận chuyển conteiner. Tỉnh cần tập trung thực hiện giải phóng mặt bằng dứt điểm phục vụ thực hiện dự án đường sắt Yên Viên- Hạ Long để giảm tải cho QL18A và kiến nghị xây dựng đường cao tốc Hà Nội- Hạ Long và Hạ Long-Móng Cái để thúc đẩy phát triển kinh tế. Muốn làm nhanh, tỉnh cần phải ứng vốn, nếu không phải đi vay để làm.
Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Duy Hưng kết thúc vấn đề “Đường sá thì dài lắm, nói thì phải hết ngày. Vấn đề này, tỉnh phải họp bàn để ra nghị quyết chuyên đề.
* Vấn đề môi trường được nhiều đại biểu quan tâm
Vấn đề môi trường vẫn luôn được các ĐB quan tâm trong nhiều kỳ họp qua. Theo các ĐB, ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh ta hiện nay gồm cả môi trường không khí, môi trường nước. Nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường là do sự tăng trưởng kinh tế, tốc độ đô thị hoá nhanh, việc phát triển mở rộng triển khai các nhà máy nhiệt điện, nhà máy xi măng, nhà máy đóng tàu và nhất là do hoạt động khai thác chế biến, vận chuyển tiêu thụ sản lượng than trên địa bàn tỉnh thời gian qua tăng nhanh… Trong khi đó, cơ sở hạ tầng không được đầu tư tương xứng. Ngoài những nguyên nhân trên còn do sự phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường giữa các ngành, địa phương còn hạn chế; công tác thanh, kiểm tra thực hiện chưa thường xuyên, xử lý chưa kiên quyết, kịp thời, mức độ xử lý còn nhẹ chưa đủ sức răn đe; lực lượng cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường từ tỉnh đến các địa phương còn thiếu và yếu.v.v.
Các đại biểu tổ Đông Triều - Uông Bí thảo luận các nội dung kỳ họp. Ảnh: Tuấn Hương
Thời gian qua công tác bảo vệ môi trường đã được tỉnh và các ngành, trong đó có ngành Than quan tâm, nhưng thực tế môi trường trên địa bàn vẫn chưa được cải thiện là bao. ĐB Nguyễn Hùng Thắng (Đông Triều) chỉ rõ: Ngành Than khai thác đã gây nhiều bức xúc cho dư luận xã hội về môi trường, nhưng đầu tư lại chưa thoả đáng. Như ở huyện Đông Triều, hiện nay một số hồ nước ở phía Bắc của huyện bị ô nhiễm nặng do khai thác than, ảnh hưởng lớn đến nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng như tác động không nhỏ tới đời sống người dân. Huyện đã nhiều lần đề nghị nhưng chưa được ngành Than và tỉnh có biện pháp quan tâm khắc phục. Về vấn đề này, ĐB Ngô Xuân Nhạc (Uông Bí) nêu chiến lược phát triển ngành Than đến năm 2010 là 30 triệu tấn/năm, nhưng hiện nay con số này đã đạt trên 40 triệu tấn/năm và tới năm 2010 theo thông báo sẽ đạt tới 80 triệu tấn/năm, trong khi đó hạ tầng không đáp ứng được. Bên cạnh ô nhiễm môi trường từ sản xuất than gây nên, các ngành khác điện, xi măng cũng làm ảnh hưởng xấu đến môi trường. Vì thế tỉnh, các ngành Than, Điện, Xi măng phải cân nhắc nghiên cứu đánh giá kỹ về môi trường, đưa ra những giải pháp phát triển gắn với bảo vệ môi trường, có như vậy mới phát triển bền vững được. Khắc phục những tình trạng về môi trường, trước mắt tỉnh đã chỉ đạo và ngành Than quyết tâm từ 1-1-2008 không vận chuyển than trên quốc lộ 18A. Các ĐB khẳng định việc ô nhiễm môi trường hiện nay không chỉ dừng ở các khu đô thị, khu dân cư mà ngay cả khu vực nông thôn cũng ngày càng trở lên bức xúc. ĐB Đinh Thị Lựu (Yên Hưng) cho biết: ý thức chấp hành Luật Bảo vệ môi trường của nhiều tổ chức cá nhân và các doanh nghiệp trên địa bàn còn hạn chế, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc trong nhân dân. Hiện tỷ lệ dân được sử dụng nước sạch còn thấp, việc thu gom và xử lý rác thải, tiêu thoát nước trong khu dân cư, tình trạng tích tụ rác thải ngày càng nhiều, bãi rác thải nằm xen kẽ khu vực dân cư, ven chợ, thậm chí các ao hồ, kênh mương biến thành nơi chứa rác… Để khắc phục tình trạng này, ngoài việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường; các ngành các địa phương các tổ chức đoàn thể phải vào cuộc tăng cường công tác tuyên truyền để mọi tầng lớp nhân dân tích cực và tự giác tham gia công tác bảo vệ môi trường; phải xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường cụ thể đối với từng lĩnh vực như: Môi trường đô thị, du lịch; các khu, cụm công nghiệp; môi trường nông thôn, miền núi hải đảo… cho phù hợp và có những cơ chế chính sách, những giải pháp mạnh, quyết liệt hơn thì công tác bảo vệ môi trường sẽ được cải thiện.
* Nan giải bài toán giải ngân vốn xây dựng cơ bản
Trong năm 2007, vấn đề giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản (ĐTXDCB) vẫn là bài toán khó. Giám đốc Kho bạc tỉnh Trần Văn Lâm cho biết, theo số liệu của ngành, đến hết tháng 11-2007, khối lượng công việc ĐTXDCB chủ đầu tư đã lập hồ sơ đề nghị thanh toán qua Kho bạc Nhà nước tỉnh mới chỉ đạt 42,63% so với kế hoạch vốn đã được giao. Hệ thống kho bạc tỉnh đã thực hiện thanh toán và giải ngân đạt 95,58% số vốn đề nghị. Giám đốc Kho bạc tỉnh Lâm nhấn mạnh: “Nguyên nhân của tình trạng trên là do trách nhiệm một số chủ đầu tư chưa cao, chưa tập trung đôn đốc nhà thầu tập hợp hồ sơ để thanh toán; một số nhà thầu yếu về năng lực thi công, tổ chức đấu thầu xong để chiếm công trình, không tập trung năng lực để triển khai các dự án; các thủ tục về xây dựng cơ bản theo quy định đòi hỏi nhiều chủ đầu tư lập dự án, trình duyệt thủ tục kéo dài dẫn đến việc dự án đã được phê duyệt, được bố trí vốn ngay từ đầu năm, nhưng đến hết quý III vẫn chưa giải ngân được. Đặc biệt một số dự án công trình được ghi kế hoạch vốn trong năm thì chủ đầu tư mới chuẩn bị thực hiện dự án nên chậm giải ngân, và thường giải ngân vào dịp cuối quý IV. Mặt khác, việc bổ sung, điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư còn quá nhiều, vì vậy các chủ đầu tư và nhà thầu bị động trong triển khai thực hiện, lập hồ sơ thanh toán”. Đại biểu Triệu Thị Hương (Hoành Bồ) cho rằng: “Từ trước, tỉnh đã phân cấp cho cấp huyện được phê duyệt các báo cáo kinh tế, kỹ thuật từ 5 tỷ đồng trở xuống. Trong năm 2007, tỉnh đã giao dự án từ tháng 12-2006, phân bổ cho các chương trình mục tiêu, phê duyệt danh mục công trình cụ thể, nhưng đến tháng 6-2007 mới thông báo, do vậy, dẫn tới việc triển khai thực hiện bị chậm, phải thi công công trình và giải ngân vốn vào dịp cuối năm hoặc phải để chuyển tiếp”. ĐB Chu Văn Tuyển (Hải Hà) và ĐB Nguyễn Chí Thăng (Yên Hưng) cho rằng, một trong những nguyên nhân dẫn đến việc giải ngân chậm trong lĩnh vực xây dựng cơ bản là do vốn chuyển tiếp từ năm 2006 sang quá lớn. ĐB Thăng cho rằng: “Cần xem xét trách nhiệm cụ thể từng đơn vị, cá nhân trong tổ chức thực hiện việc thi công dự án và giải ngân vốn”. ĐB Hà Quang Long (Hạ Long) cho rằng giá cả thị trường biến động và việc giải phóng mặt bằng chậm cũng là nguyên nhân dẫn đến tiến độ triển khai của một số dự án trong năm quá chậm...
Để giải quyết bài toán về vốn ĐTXDCB, Giám đốc Kho bạc tỉnh kiến nghị các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án cần theo dõi chặt chẽ từng kỳ thanh toán khối lượng hoàn thành, những trường hợp hồ sơ thanh toán để quá 5 ngày chưa được thanh toán không có lý do chính đáng thì phải thông báo trực tiếp cho cơ quan chức năng kịp thời xử lý; các chủ đầu tư, chủ dự án cần thực hiện nghiêm túc, đúng trình tự các bước trong quản lý vốn ĐTXDCB, đôn đốc đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án, đặc biệt là đối với những dự án mới được ghi kế hoạch bổ sung. “Những dự án chưa triển khai, chưa đầy đủ thủ tục để triển khai thực hiện đầu tư đến nay, UBND tỉnh nên xem xét, chuyển kế hoạch vốn đề thanh toán cho những dự án đã có khối lượng công trình hoàn thành từ những năm trước và những công trình cần sớm hoàn thành mà đến nay chưa được ghi kế hoạch vốn”. ĐB Triệu Thị Hương đề nghị: “Tỉnh nên phân cấp cho các huyện được phê duyệt các danh mục công trình cụ thể sau khi được phân bổ nguồn vốn đầu tư thì sẽ chủ động hơn trong việc triển khai các dự án”.